CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Đọc thơ của Ni trưởng Huỳnh Liên

Những năm chống Mỹ, tôi ở Hà Nội, qua các báo đài, đã được biết và rất ngưỡng mộ Ni Trưởng Huỳnh Liên, tấm gương sáng của sự hài hoà giữa Đạo và Đời, theo tinh thần truyền thống thương người, yêu nước của Phật Giáo Việt Nam.

Sau khi đất nước thống nhất, tôi mới được đến Tịnh Xá Ngọc Phương gặp Ni Trưởng. Ni Trưởng trò chuyện cởi mở, đọc vài bài thơ Ni Trưởng mới làm cho nghe. Tôi thấy thơ Ni Trưởng giản dị tự nhiên mà thâm trầm hàm súc.

Sau đó, ni sinh Huệ Tâm, sinh viên Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, chọn làm đề tài luận văn thi tốt nghiệp: “Thơ của Ni Trưởng Huỳnh Liên”. Tôi là Giáo sư hướng dẫn được đọc kỹ thơ của Ni Trưởng, thấy Ni Trưởng làm thơ với một phong cách thật đặc sắc.

Lần này, các đệ tử sưu tầm một số lớn văn thơ của Ni Trưởng để xuất bản (Ni Trưởng bình sinh làm rất nhiều thơ, các đệ tử được Ni Trưởng đọc cho nghe, nhớ lại, chưa đầy đủ).

Từ buổi đầu, được nghe thơ Ni Trưởng, đến khi hướng dẫn luận văn tốt nghiệp và đến lần này xuất bản thơ Ni Trưởng, qua nhiều thời gian suy ngẫm tôi nhận thấy ở Ni Trưởng Huỳnh Liên một tâm hồn thi sĩ đích thực.

Tôi viết câu trên với tất cả sự thận trọng mặc dầu ý nghĩ nầy tôi đã có ngay từ lần đầu nghe thơ Ni Trưởng. Sở dĩ, tôi phải thận trọng vì thông thường khi nói tâm hồn thi sĩ, người ta nghĩ ngay là đa cảm, phóng khoáng, sẵn sàng xúc động về những nỗi buồn vui trần thế.

Là thi sĩ nghĩa là ru với gió,

Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây.

Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây,

Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến.

Xuân Diệu - Cảm Xúc

Nếu là như vậy, liệu nói về một bậc tu đạo: Có tâm hồn thi sĩ có thích hợp chăng?

Tuy nhiên, tôi suy ngẫm về thơ của các vị Thiền Sư thời Lý Trần như bài Cáo Tật Thị Chúng của Mãn Giác Thiền Sư:

Xuân khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai,

Sự trục nhãn tiền quá,

Lão tùng đầu thượng lai,

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Dịch nghĩa:

Cáo bịnh bảo mọi người

Xuân qua trăm hoa rụng,

Xuân tới trăm hoa cười,

Việc đời ruổi qua trước mắt,

Cảnh già hiện ra trên đầu,

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua một cành mai nở trước sân.

Đọc bài thơ, mặc dầu sự hiểu biết có hạn, tôi cũng thấy được ý đạo thật cao xa mà tình đời rất đằm thắm. Hoặc như bài thơ Ngư Nhàn của Thiền Sư Không Lộ:

Vạn lý thanh giang vạn lý thiên,

Nhất thôn tang giá nhất thôn yên.

Ngư ông thuỵ trước vô nhân hoán,

Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.

Dịch nghĩa:

Cảnh thanh nhàn của ngư ông

Muôn dặm sáng trong muôn dặm trời xanh,

Một làng tang giá một làng khói toả.

Ngư ông mê ngủ không ai gọi cả,

Quá trưa tỉnh dậy tuyết phủ đầy thuyền.

Tôi thấy chẳng gì xa cách đời thường, những nhân tâm, thế sự cả.

Lại như Phóng Cuồng Ca của Tuệ Trung Thượng Sĩ thì hết sức phóng khoáng, hồn nhiên.

Về Đạo Phật là một tín ngưỡng vô cùng sâu rộng, tôi không hiểu biết được trong muôn một, tôi chỉ xin nói những cảm khái thô thiển của tôi về những bài thơ tạm gọi là thơ đạo của Ni Trưởng Huỳnh Liên. (Tôi nói tạm gọi vì thực ra ý thiền toả khắp trong mọi bài thơ của Ni Trưởng: Sự phân biệt phần thơ đạo và những phần thơ khác chỉ là một cách khu biệt ít nhiều ước lệ, để tiện bề nghiên cứu cho tập trung mà thôi).

Thơ đạo của Ni Trưởng, theo cảm niệm của tôi, phát xuất từ những cảm hứng đề tài rất bình thường. Đấy là những cụm hoa không phải kén chọn, ương trồng, chăm sóc với những công phu dành riêng cho các loài hoa quý hiếm trong các nơi thượng uyển, mà là hoa đồng, hương quê rất mộc mạc, thân mật với chúng sanh; Ai cũng có thể và nếu ưa thích thì dễ dàng hái lấy để cài lên mái tóc hay đem về cắm ở nhà, không bị ngăn cấm gì hết vì là của chung, của mọi người, mang trong người, để trong nhà, hương thơm lan toả khắp nơi, ai đến gần cũng được thơm lây. Đó là cái cách Ni Trưởng đem Đạo pháp đến cho mọi người. Mấy lần tôi được ngồi cùng Ni Trưởng, rõ ràng là Ni Trưởng thản nhiên trò chuyện bình thường, thế mà sau đó tôi nghĩ ra là đã được truyền pháp nhẹ nhàng mà thấm thía.

Ruột rà ai cắt chẳng đau,

Tình thương ai dứt chẳng xao gan vàng.

Nếu ta suy nghĩ kỹ càng,

Tình nầy cảnh ấy rõ ràng tương thân.

Làm người là có lòng nhân,

Hãy khơi tánh Phật lần lần sáng ra.

Người cùng muôn vật một nhà,

Ta là anh chị, chúng là đàn em.

(Giới Sát)

Tuồng đời ai biết cho chăng,

Như mây tan hiệp, như trăng khuyết tròn.

Đêm tàn tim lụn dầu mòn,

Cái đi mờ mịt, cái còn mỏng manh.

Chắc chi bọt nước đầu gành,

Chắc chi sương đọng trên cành ban mai.

Bọt kia làn gió nhẹ lay,

Sương kia ánh nắng chiếu ngay tan rồi.

Mênh mông trong khoảng đất trời,

Thân ta biết gởi về nơi chốn nào.

(Thân)

Phật xưa có dạy mấy lời,

Thửa rừng công đức một đời trồng gieo.

Lửa sân nổi dậy đốt thiêu,

Như chim mất cánh, như diều đứt dây.

(Nhẫn)

Nghệ thuật thuyết pháp - nếu có thể nói như vậy được - của Ni Trưởng rất linh hoạt, đa dạng, phong phú. Ni Trưởng không dụng ý làm nghệ thuật, nghệ thuật là từ cái tâm muốn cứu độ chúng sanh, như trong truyện Phật Bà Quan Âm đã nói:

Thần thông nghìn mắt, nghìn tay,

Cũng trong một điểm linh đài mà ra.

Những triết luận rất cao xa được Ni Trưởng trình bày rất giản dị:

Khuyên được vài người tu,

Tâm mình liền dứt ác.

Khuyên được mười người tu,

Đạo đức mình thêm phát.

Khuyên được trăm ngàn người,

Đó là hạnh Bồ Tát.

Khuyên được vô lượng người,

Tức là Phật không khác.

(Công Đức)

Ni Trưởng dùng những hình ảnh cụ thể, gợi cảm để diễn đạt những tư tưởng uyên áo.

…Sung sướng lúc vượt lên,

Vẻ vang khi hành động.

Rực rỡ của thành công,

Sự sống trong đời sống.

Hôm qua một giấc mơ,

Ngày mai là ảo vọng.

Nếu hôm nay sống vui,

Thấy hôm qua đẹp mộng.

Thấy ngày mai xinh tươi,

Vậy hôm nay vui sống.

(Chào Bình Minh)

Rợp bóng từ bi cây rậm lục,

Phơi màu bác ái áo tươi vàng.

(Cảnh Nhàn)

Mượn cách ngụ ngôn, ví von, Ni Trưởng giải thích những vấn đề phức tạp:

Sức chịu đựng ai bằng quả đất,

Để trần gian chứa chất nặng nề,

Hỡi rừng, hỡi suối, hỡi khe,

Hỡi cây, hỡi đá, hỡi xe, hỡi thoàn.

Cam chịu đựng muôn vàn sức nặng,

Chất bao nhiêu quyết chẳng nản lòng,

Vì đời âu phải ra công,

Vì đời âu phải gánh gồng bọc bao.

Người dẫn chúng khác nào quả đất,

Để chúng sanh chứa chất nặng nề,

Hỡi ganh, hỡi ghét, hỡi bì,

Hỡi phiền, hỡi giận, hỡi si, hỡi lầm…

(Sức Chịu Đựng)

Ni Trưởng có khi dùng văn hài hước:

Lão Tôn nghĩ:

Như lão Tôn đây,

Đã từng ngang dọc.

Khi náo Địa phủ,

Lúc loạn Thiên cung.

Dưới đất trên trời,

Chẳng một ai đối thủ.

Dè đâu Pháp Phật linh,

Lão Tôn đành hết kế…

(Tề Thiên, Bị Chụp Ngũ Hành Sơn)

Đọc thơ Ni Trưởng Huỳnh Liên, ta thấy đạo pháp và thơ không cản trở nhau, trái lại hài hoà, hỗ trợ nhau rất đẹp. Chính Ni Trưởng cũng ý thức được điều đó.

Văn có đạo cội bền cây tốt,

Đạo nương văn ý tột lý mầu.

Lá cành sầm uất bền lâu,

Văn chương đạo đức cùng nhau độ đời.

………………………………………………

Pháp thâm diệu văn từ thâm diệu,

Văn phi thường pháp hiểu phi thường.

Văn truyền pháp hiển hoằng dương,

Văn phò lấy đạo một đường dung thông.

(Văn Với Đạo)

Như tôi đã thú nhận bên trên, về Đạo Phật tôi hiểu biết rất ít, cho nên chắc chắn tôi chưa thấy hết được những nét tinh anh trong phần thơ đạo của Ni Trưởng Huỳnh Liên. Về phần thơ đời cũng xin tạm đặt tên là như thế theo cách ước lệ, tôi nghĩ rằng tôi có thể lãnh hội nhiều hơn.

Tôi mạnh dạn khẳng định: Đây là những áng thơ trữ tình đặc sắc: Tình với người, với cảnh, với thầy, với đệ tử, với đất nước quê hương, với bạn bè, người thân… Nếu tôi không nhầm, các bài thơ này thường là ngẫu cảm, ứng tác và điều này chứng tỏ Ni Trưởng rất nhạy cảm đối với những cái đẹp, cái đau, cái vui, cái đáng thương trong thế gian. Ấy là những quả chuông nơi Phật điện, chỉ cần gõ nhẹ có khi chỉ làn gió thoảng cũng ngân vang mãi không thôi.

Trên hai trăm bài thơ trữ tình in trong tập thơ - sưu tầm cũng chưa đầy đủ - nếu thâu tóm lại, thì chỉ bốn chữ TỪ - BI - HỶ - XẢ, nhưng nếu phân tích thì phong phú lạ thường, giống như một giọt sương trên chiếc lá chỉ một giọt sương thôi, nhưng khi ánh dương quang chiếu vào thì lung linh muôn vàn màu sắc.

Trong bài thơ Nguyệt Cầm của Xuân Diệu có câu:

Mây trắng, trời trong đêm thuỷ tinh,

Lung linh bóng sáng bỗng rùng mình.

Thơ miêu tả sự trong sáng tuyệt vời của trời đất. Phải, trong sự trong sáng tuyệt vời ấy, tiếng đàn không bị vẩn đục bởi một chút vật chất nào mới thật đẹp. Tôi thường từ lời thơ này mà suy nghĩ về thơ các vị Thiền Sư: Bởi vì trong cái tâm của các vị trong sáng tuyệt vời nên mọi cảnh, mọi tình phản chiếu vào đều đẹp, thật đẹp, đẹp toàn mỹ.

Bút pháp vì sự khoáng đạt thanh thoát tả cảnh của Ni Trưởng Huỳnh Liên khiến tôi kinh ngạc:

Sương chiều xuống cỏ nhung xanh ngậm ngọc,

Trăng vàng lên lấp ló ngọn tre cao.

Ngọc kim cương phản chiếu ánh vàng sao,

Ôi mặt đất dồi dào châu báu lạ.

(Đêm Trăng ở Ca Nả)

Hồ rộng vươn mình ngắm núi cao,

Lá xanh sen đỏ điểm tô màu.

Ban ngày thấp thoáng chòm mây đạo,

Đêm tối lung linh bóng nguyệt chào.

(Tịnh Xá Ngọc Quang – Sa Đéc)

Lá rụng ven hồ nhăn mặt nước,

Ác trầm gốc núi ủ gương trời.

(Lỗi Bước)

Cây xanh lá biếc đẹp màu,

Phải cây trăm thước tàng cao chăng là?

Bốn mùa ai bảo không hoa,

Thạch hoa thơn thớt nở ra không tàn.

……………………

Nền trời cao rộng xanh xanh,

Mây hồng mây trắng bay quanh đỉnh đầu.

Gió lồng lộng thổi nôn nao,

Cành cây ngọn cỏ thi nhau reo cười.

(Viếng Núi Bửu Long Cảm Tác)

Về bút pháp tả tình của Ni Trưởng, tôi chỉ muốn nói một điểm: Tình chân thật, và tôi nghĩ rằng sức cảm hoá mầu nhiệm là ở đó. Tôi nghĩ đến chuyện Quan Âm Thị Kính: Khi Thị Kính bị Thị Mầu vu oan mà lại nhận đứa hài nhi về nuôi, làm sao minh oan được? Đến cả Sư phụ cũng nghi ngờ:

Bữa sau Sư phụ mới hay,

Dạy rằng: Như thế thì thầy cũng nghi!

Thị Kính không dùng lý lẽ, chứng cớ mà lý lẽ, chứng cớ nào? Chỉ minh oan bằng sự chân thật:

Bạch rằng: “Muôn đội Thầy thương,

Xưa nay Thầy dạy mọi đường nhỏ to.

Dầu xây chín đợt phù đồ,

Sao bằng làm phúc cứu cho một người.

Vậy nên con phải vâng lời,

Mệnh người dám lấy mà chơi làm liều”.

Ni Trưởng Huỳnh Liên nói về mình (Tự Thuật); ăn năn, hay khuyên người, diễn tả tâm trạng hay giải bày cảm tưởng đều bằng lời lẽ chân thật, sự chân thật ấy là chân tình. Tôi hiểu đó là Phật tính, mà ai ai cũng có Phật tính, nên được cảm thông, cảm hoá.

Con chìm đắm biển trần thọ khổ,

Thầy từ bi tế độ vớt lên.

Mặc thì áo giới ấm êm,

Ăn thì sữa pháp, cơm thiền nuôi thân.

Ghi nhớ mãi công ân Thầy Tổ,

Xót thương hằng dạy dỗ lắm phen.

Như đem ánh sáng ngọn đèn,

Rọi vào tâm trí tối đen mịt mờ.

Ngày qua ngày nương nhờ ánh sáng,

Lần nhiều lần tỏ rạng tâm mê.

Vun phân tưới nước Bồ đề,

Nảy cành vô ngã trổ huê chơn thường.

(Nhớ Ơn Thầy)

Cảm động xiết bao về tấm lòng của Ni Trưởng đối với Thầy, người đọc thơ Ni Trưởng càng cảm động vô vàn vì tấm lòng của Ni Trưởng đối với đệ tử: ấy là tấm lòng mẹ hiền:

Ruột mẹ đoạn lìa con có biết,

Nhìn con xuống núi dạ như bào.

Tiên phàm hai ngã rày ngăn cách,

Hoạ thấy nhau chăng ở kiếp nào.

Đông độ con về quên cảnh mẹ,

Tây phương mẹ ở nhớ tình con.

Ven trời thăm thẳm lòng xa xót,

Dóc núi đăm đăm mắt mỏi mòn.

(Lỗi Bước)

Thầy đã quyết khép mình bền khổ hạnh,

Con sao còn lung ý sánh xa hoa.

Thầy trưởng thành trong nếp áo vị tha,

Con tù hãm giữa ngôi nhà ích kỷ.

Kể từ buổi theo thầy tầm chơn lý,

Tỏ ra người hữu chí lắm công phu.

Thầy quý con như quý ngọc minh châu,

Trau giồi kỹ được làu làu toàn bích.

Đâu ngờ mới một thời gian phân tách,

Con chẳng còn phong cách bậc tu chân!

Nhớ nghe con rồi trở lại nghe con,

Thầy thao thức mỏi mòn trông đợi trẻ.

(Lối Đi)

Chẳng những đối với các đệ tử mà đối với các trẻ mồ côi, tình thương của Ni Trưởng cũng thật thắm thiết:

Con chứng thầy phạt tù,

Bò theo con khóc mướt.

Níu áo quỳ ngẩng đầu,

Ba lần ôi đứt ruột.

Thầy kỳ vọng nơi con,

Sau học thành bác sĩ.

Phục vụ khắp thế nhân,

Đền công ơn tín thí.

Dè đâu con vắn số,

Tuổi vừa đúng thôi nôi.

Đã ra người thiên cổ,

Lúc thầy đi xa xôi.

Thầy đi con mới bịnh,

Thầy về thấy nấm mồ.

Người lớn trông ấm kín,

Con bé lại đơn cô?

Con ơi con bé bỏng

Có ai ẵm bồng chăng?

Con ơi con lạc lõng,

Có ai hiếp đáp chăng?

Ni Trưởng Huỳnh Liên thực sự là hiện thân của sự hoà bình nhuần nhuyễn tinh thần Phật giáo và tinh thần dân tộc.

Dầu tu sĩ cũng công dân đất nước,

Vì tình thương, vì đạo đức đấu tranh.

Cho tự do trong độc lập hoà bình,

Cho hạnh phúc trong phồn vinh vĩnh cửu.

(Khúc Thanh Bình)

Tôi yêu Phật giáo Việt Nam,

Là vì Phật giáo không làm hại ai.

Trên đường du nhập xa dài,

Không khai đường máu, mà khai tâm lành.

Hai mươi thế kỷ chơn thành,

Đã cùng dân tộc, nhục vinh thăng trầm.

(Tôi Yêu Phật Giáo Việt Nam)

Ni Trưởng Huỳnh Liên xứng đáng là bông sen vàng trước Phật đài. Ni Trưởng đã viên tịch, nhưng tư tưởng, tình cảm, hành động, tất cả con người của Ni Trưởng vẫn còn lại trong những vần thơ cao đẹp.

Chímh vì lẽ đó, tôi xem tập thơ nầy là cuốn sách quý. Tôi còn có mong ước là toàn tập thi văn của Ni Trưởng được xuất bản để góp phần hoằng dương đạo pháp, xây dựng, phát triển văn hoá, đạo đức của dân tộc.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11.1993

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan