CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


"Các Vị La Hán Chùa Tây Phương" của nhà thơ Huy Cận

Giữa cơn lốc thời gian, vạn vật đều phải hướng về phía trước, cùng tiến theo chiều gió thời gian, nếu không muốn bị đào thải lại phía sau. Thời gian là chất liệu nhẹ nhàng êm ái làm xoa dịu bao vết đau, làm thắm đượm bao tình nghĩa và làm khởi sắc bao tình cảm cao đẹp, để hướng về một ngày mai tươi sáng. Vì thế, suốt chặng đường dài của lịch sử, dân tộc Việt Nam đã trải qua bao cuộc thăng trầm biến chuyển, dòng văn học Việt Nam cũng theo từng thời kỳ ấy mà vươn lên khởi sắc. Biết bao văn nhân, thi nhân đã bày tỏ niềm suy cảm, nỗi ước mơ của mình qua những vần thơ văn mộc mạc, góp phần làm cho kho tàng văn học ngày càng thêm phong phú. Huy Cận là một nhà thơ trong thời giao thoa giữa hai nền văn học cũ và mới. Ông xuất thân trong một gia đình Nho giáo, nên ít nhiều cũng hấp thụ được dòng tư tưởng của Nho gia; rồi lại được hấp thụ nền giáo dục tân thời, nên trong thơ ông có những nét độc đáo và phong thái riêng biệt. Đối với ông, từng mảnh đất được hồi sinh “Đất nở hoa”, từng tấm lòng nhân hậu của “Những bà mẹ và người vợ”, từng mái lá đơn sơ của “Ngôi nhà giữa nắng” v.v… đều đã trở thành những tác phẩm thi ca mang tính hồn nhiên trong sáng. Và với cái nhìn hoàn toàn mới, ông đã “dạo bước” đến chùa Tây Phương, một công trình kiến trúc cổ độc đáo được dựng ở trên núi Câu Lâu, để rồi qua những bức tượng La Hán, ông đã thấy nó mang một nét gì đó rất riêng của nhà Phật, nhưng cũng rất chung của dân tộc Việt Nam, trong buổi giao thời loạn lạc đau thương. Bài thơ “Các vị La Hán chùa Tây Phương” của ông được ra đời trong bối cảnh như vậy, làm cho hậu học chúng ta ai đã từng đọc qua đều mang nhiều cảm xúc khác nhau.

Trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ, những gì đã đi qua đều trở thành kỷ niệm quá khứ. Có những kỷ niệm thoáng đến rồi đi chẳng có gì sâu lắng, nhưng cũng có những kỷ niệm đau lòng mà suốt đời không làm sao quên được. Vì thế tiếng súng đầu tiên nơi cửa biển Đà Nẵng, đã đánh thức bao giấc ngủ bình yên của người dân đất Việt. Đó là điểm mở màn cho cuộc xâm lăng của đoàn quân viễn chinh Pháp, là một dấu chấm để kết thúc một triều đại suy vong, là một thí trường để tuyển chọn bậc anh hùng trong thời loạn, và đây cũng là một bước ngoặt lịch sử đưa dân tộc Việt Nam đến chỗ lầm than nô lệ. Bấy giờ, dù cho suy nghĩ, nói năng cũng không ai dám bộc lộ hết tâm ý của mình, bao nhiêu cuộc nổi dậy của nghĩa quân dưới sự lãnh đạo của Đề Thám, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Hoa Thám v.v… vẫn chỉ vang bóng một thời, rồi cũng bị lịm tắt. Muôn dân sống trong tâm trạng hoang mang lo sợ, chờ đợi bậc anh tài cứu nước cứu dân. Và có đau đớn nào hơn khi phải làm nô lệ cho ngoại bang, bấy giờ lại không có người lèo lái vận mạng quốc gia, người dân chẳng làm gì khác hơn là phải chịu làm tôi cho giặc. Phật giáo đã bao phen chịu đựng sự thăng trầm vinh nhục cùng với dân tộc. Nếu như đã có những vinh quang rạng rỡ ở hai triều đại Lý - Trần, Phật giáo được xem là quốc giáo, thì sao lại không có những lúc phải chịu đựng nỗi tủi nhục của kiếp đọa đày nô lệ; tôn giáo cũng bị hạn chế bởi ngoại giáo từ nước ngoài du nhập. Có lẽ vì vậy, Huy Cận đã bắt gặp những pho tượng ở chùa Tây Phương mang nỗi buồn sâu lắng của dân tộc, và mối u hoài của Phật giáo thời xưa:

“Há chẳng phải đây là xứ Phật,

Mà sao ai nấy mặt đau thương”.

Để rồi mỗi người mỗi vẻ, mỗi một pho tượng đều có những phong thái, tư chất riêng được những nhà họa sĩ tài danh khắc họa thật sống động. Với nét bút của Huy Cận chúng ta như nhìn thấy được tận tâm hồn của mỗi pho tượng:

“Đây vị xương trần chân với tay,

Có chi thiêu đốt tấm thân gầy.

Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt,

Tự bấy ngồi yên cho đến nay.”

Và làm sao bình yên được trong khi cuộc sống bên ngoài luôn xáo trộn, mọi sự tha hóa tội lỗi đang diễn bày ra trước mắt. Vua quan triều đình tham ô, dâm loạn, bọn lính lê dương (lính Pháp) thì ngạo mạn hoành hành, còn con dân đất Việt thì cúi đầu cam chịu bao đau khổ và tủi nhục, cho nên “Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn”.

Cả khổ thơ dài 12 câu đã diễn tả được những nét riêng biệt đặc thù, làm nổi bật từng nét cụ thể của những pho tượng, qua đó bộc lộ được nội tâm sâu lắng, dằn vặt như thế nào.

Tác giả đã rất tài tình trong lối miêu tả ngoại hình nhân vật, bởi vì qua mô tả ngoại hình khắc khổ, khô gầy còn trơ lại mảnh xương tàn, với dáng ngồi yên bất động, nhưng tự nó đã làm cho người đọc như thể nhìn thấy được chiều sâu tâm hồn của từng pho tượng, qua những từ “thiêu đốt”, “trầm ngâm”… những hình ảnh “sâu vòm mắt”, “Tự bấy ngồi yên cho đến nay”.

Huy Cận đã sử dụng nghệ thuật tạo hình tới mức tối đa, làm cho chúng ta tưởng chừng như đang nhìn ngắm những pho tượng như những con người sống thật. Cái tài của ông đã phản ảnh chân thực, phản ánh được cái thiên tài của những nhà điêu khắc. Cái tài của nhà điêu khắc là tạo được những bức tượng nghệ thuật sống động, đầy ấn tượng. Nhà thơ chẳng phải “chụp” được hình ảnh một cách chân thật, mà còn “chụp” được cái thần của tác phẩm nghệ thuật ấy. Nghĩa là qua bút lực của Huy Cận, chúng ta thấy được cái tài của những nhà điêu khắc Việt Nam vào thế kỷ XVIII. Qua 4 câu thơ:

“Có vị mắt giương mày nhíu xệch

Trán như nổi sóng biển luân hồi

Môi cong chua chát tâm hồn héo

Gân vặn bàn tay mặt máu sôi.”

Chúng ta sẽ thấy được từng hình khối, từng đường nét, hằn lên một cách mạnh mẽ tính cách của nhân vật. Những chữ “giương”, “nhíu xệch”, “chua chát ”, những hình ảnh “nổi sóng biển luân hồi”, “Gân vặn bàn tay mặt máu sôi”… như muốn phóng ra ngoài những suy tư, trăn trở, những dày vò khắc khổ ở tận cùng nội tâm sâu thẳm.

Trong vị trí tiếp cận pho tượng, tác giả đã dẫn dắt chúng ta cùng đi tham quan, xem xét từng nét đặc thù riêng biệt của mỗi pho tượng. Giờ đây với quần thể chung 18 pho tượng ấy, tác giả đứng xa hơn để ngắm nhìn được những nét đẹp bàn bạc, mênh mông; đồng thời cùng chìm đắm trong những suy tư, trăn trở, vật vã và bất lực toát lên từ những nét đau khổ chung của mỗi pho tượng.

“Các vị ngồi đây trong lặng yên

Mà nghe giông bão nổ trăm miền

Như từ vực thẳm đời nhân loại

Bóng tối đùn ra trận gió đen”.

Phải chăng Huy Cận đã muốn nhắc nhở chúng ta nỗi đau chung của kiếp con người trong cuộc sống. Trong buổi giao thời cuộc sống luôn trăn trở, con người là nạn nhân cũng là nhân tố chính tạo gây bao điều đau khổ. Vậy nên bao nhiêu miền đất nước là bấy nhiêu niềm đau được hằn sâu vào lòng nhân loại. Để rồi niềm đau ấy lan rộng ra, mang theo những khổ đau, đối với chúng chẳng ai cầu mong mà vẫn đến, chẳng khác nào cơn dịch ác tính luôn đe dọa loài người. Và chúng ta sẽ thấy được gì khi:

“Mỗi người mỗi vẻ mặt con người

Cuồn cuộn đau thương chảy dưới trời

Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã

Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi.”

Dưới lăng kính nhìn của nhà thơ, những pho tượng như được nhân cách hóa lên thành những con người thật, sống động tinh tế, hay nói khác đi, những pho tượng ấy đã toát lên chất người tự hữu, cùng đau nỗi đau chung của nhân loại. Huy Cận đã biến những pho tượng lặng yên kia thành những sinh hoạt thể dụng, có một tâm trạng sục sôi căng thẳng. Nói như trong nhà Phật, toàn thể chúng sanh chỉ vì vô minh tham vọng mà đang bị nung nấu trong nhà lửa tam giới, nên “Cuồn cuộn đau thương chảy dưới trời”.

Như chúng ta biết, Đạo Phật hiện hữu nơi cuộc đời bằng chính con người và không phải vì Đạo Phật, mà vì mục đích phục vụ con người. Huy Cận đã dùng bút pháp tài tình diễn tả những nỗi thống khổ, tư duy tự hào mang lấy kiếp người. Ông trình bày mỗi người một vẻ riêng, để rồi đi đến cuộc hội ngộ quái lạ diễn bày tâm thức chung của chúng sanh.

“Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau

Quay theo tám hướng hỏi trời cao

Một câu hỏi lớn không lời đáp

Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.”

Các nhà điêu khắc tạc những pho tượng các vị La Hán chùa Tây Phương, bắt nguồn cảm hứng từ hiện thực cuộc sống, những vị La Hán biểu tượng tâm thức của con người. Khi lục căn con người như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với trần cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp (Lục trần), vọng khởi sanh ra biết bao là phân biệt theo nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức (Lục thức). Và có phải chăng 18 pho tượng ấy chính là biểu tượng của 18 giới (6 căn, 6 trần và 6 thức) mà nhà Phật thường hay nhắc đến. Nguyễn Đăng Minh đã nhận xét: “Theo nhiều chuyên gia về nghệ thuật tạo hình thì 18 pho tượng La Hán, một mặt được tạc theo tinh thần Phật giáo, mặt khác lại phản ánh hiện thực trên đất nước ta, nghĩa là trên các pho tượng có thể thấy hình ảnh con người Việt Nam với tâm tư và những vấn đề của họ trong hiện thực thế kỷ XVIII”.

Khổ thơ đầu, chúng ta thấy tác giả hỏi “Mà sao ai nấy mặt đau thương”, cũng là một cách trả lời “Các vị đau lòng theo chúng nhân”, nghĩa là các vị La Hán đang đau nỗi đau của con người, của nhân loại, của dân tộc Việt Nam đang thăng trầm, cho nên dù “Có thực con đường tu đến Phật, Trần gian tiếp cởi áo trầm luân”. Qua đó tác giả đã gợi cho chúng ta rất nhiều suy nghĩ. Giữa cuộc đời đầy gian khổ, dân tộc Việt Nam lắm nổi truân chuyên, chịu đựng bao nhiêu điều khắc khổ bởi ngoại bang, bởi nội chiến và bởi thiên tai, liệu người chân tu có thể nào ngoảnh lại với nhân sinh không? Và có thể nào giải thoát khỏi cuộc đời, cởi bỏ được tấm áo trần gian vương vấn bụi phiền não này chăng?

“Bác tạc bấy nhiêu hình khổ hạnh.

Phải chăng chuyện Phật kể cho nhau”

Những pho tượng đó còn biểu trưng cho hình ảnh của cha ông, hình ảnh hiện thực đang sống trong xã hội phong kiến, đầy dẫy bất công trong tầng lớp bị trị và những kẻ thống trị. Trong những năm này là những năm mà đất nước với bọn quan lại bù nhìn đang bắt tay giao tiếp với Tây phương, nền Nho học và những sĩ phu ở thế kỷ XVIII đi dần đến mai một:

“Hay bấy nhiêu hồn trong gió bão

Bấy nhiêu tâm sự bấy nhiêu đời

Là cha ông đó bằng xương máu

Đã khổ, không yên cả đứng ngồi”

Lồng vào những pho tượng, Huy Cận dùng trí tưởng tượng của mình với một chủ đích rõ rệt. Ông muốn nói, những pho tượng chùa Tây Phương còn phản ánh một thời đại phong kiến thối nát tàn bạo, đang đè nặng trên con đường tiến hóa của xã hội đương thời không lối thoát. Kể cả Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến… những sĩ phu tài trí lỗi lạc nhất của thời đại cũng hoang mang, bế tắc.

“Cha ông năm tháng lưng đè nặng

Những bạn đương thời của Nguyễn Du

Nung nấu tâm can vò vỏ trán

Đau đời có cứu được đời đâu”.

Trong tận cùng của sự đau khổ, con người thường hay mơ ước, hoài vọng đến một cái gì đó tốt đẹp, an vui, có khả năng giúp họ vượt qua được những bất hạnh hiện tại. Vì vậy, mặc dù tuyệt vọng giữa thời cuộc đảo điên, con người đã không còn nghĩ đến nhân phẩm đạo đức. Trong những lớp người xấu xa tội lỗi ấy, vẫn có người le lói bao hy vọng cởi bỏ được xiềng gông nô lệ, dù là mong manh, nhưng đủ làm nhân tố cho những cuộc nổi dậy của phong trào duy tân do Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu lãnh đạo:

“Đứt ruột cha ông trong cái thuở

Cuộc sống dậm chân hoài một chỗ

Bao nhiêu hy vọng thúc bên sườn

Héo tựa mầm non thiếu ánh dương”.

Và rồi phong trào ấy chẳng được bao lâu cũng bị mai một, những sĩ phu yêu nước đã phải bỏ ra nước ngoài, để tìm đường cứu quốc, hoặc để thoát khỏi sự truy bắt của bọn mật vụ Pháp, chúng ta lại thấy:

“Có phải thế mà trên mặt tượng.

Nửa như khói ám nửa sương tàn”.

Và chìm trong bóng đêm của kiếp người nô lệ, cố vùng lên nhưng chẳng thoát được màn đêm, ta lại nhớ bài “Dạ hành” của Nguyễn Du có câu “Đêm đen chẳng biết bao giờ sáng”, thật là mong manh cho tiền đồ trước mặt. Như thế cũng đủ biết, cha ông ta đã trăn trở vất vã biết bao nhiêu, để tìm cho được con đường giải phóng dân tộc.

Dưới mắt Huy Cận những pho tượng như cũng tươi cười, chung vui cùng với nhân loại.

“Hôm nay xã hội đã lên đường

Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại

Xua bóng hoàng hôn tản khói sương.”

Đã qua rồi những năm tháng buồn đau tủi nhục, qua rồi những nỗi hờn căm luôn đè nén ở tâm hồn. Giờ đây dưới ngọn cờ ái quốc vì đại nghĩa, dân tộc ta thật sự sánh vai cùng cường quốc năm châu, bằng trận chiến oai hùng nơi Điện Biên - Ấp Bắc. Đó chính là điểm dừng chân của bọn lính lê dương, và là hồi chuông báo tử của nền cai trị “Quốc mẫu”, đưa dân tộc thoát khỏi sự nặng trĩu đè nén của xã hội đương thời. Ta lại thấy Huy Cận viết:

“Cha ông yêu mến thời xưa cũ

Trần trụi đau thương bỗng hóa gần

Những bước mất đi trong thớ gỗ

Về đây tươi vạn dặm đường xuân.”

Có phải chăng Huy Cận đã trút được gánh nặng tâm hồn, đã vui với những hành động vì lợi ích dân tộc, mà ông đã không thể dấu được qua những vần thơ, và thật sự mùa Xuân đến rồi đó, bỏ lại sau lưng sự lạnh lùng của một mùa Đông tẻ ngắt, buồn tênh.

Qua hình ảnh các bức tượng La Hán ở chùa Tây Phương, tác giả suy nghĩ về sự bất lực của nhà Phật trong việc tìm đường cứu độ chúng sanh, và sự đau đớn của những nghệ nhân Việt Nam ở thế kỷ XVIII. Thật ra nếu ngược dòng lịch sử, chúng ta sẽ thấy xã hội Việt Nam thời bấy giờ vô cùng nhiễu nhương, dân tình hỗn loạn, những người có tâm nguyện lớn thì lại “Tiền lộ mang mang vị tri hà vãng”. Nền đạo đức suy vi, nhân phẩm con người bị thoái hóa, giá trị con người bị khinh rẻ, có những người tuy là người mà chẳng đáng làm người; thử hỏi những vị chân tu biết phải làm gì hơn là lặng yên nhìn hoa nở lá rơi mà cám cảnh vô thường, bởi hơn ai hết, các vị hiểu được rằng: “Một con én không làm nên mùa Xuân”. Thoáng nhìn chúng ta cứ tưởng đó là một lối sống tiêu cực, lánh đời xa tục luỵ, thiếu trách nhiệm, không bổn phận, kỳ thật đó là cách sống hy sinh cao đẹp nhất. Bởi vì chỉ có những bậc trượng phu phi phàm mới dám làm điều đó, đây là cái xa lánh của Trần Nhân Tông theo tinh thần:

“Ở đời vui đạo mặc tuỳ duyên.

Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền.

Trong nhà sẵn ngọc tìm đâu nữa.

Đối cảnh vô tâm hỏi chi thiền”.

Các vị thiền sư chẳng phải vì sự buồn thương than khóc cho nhân tình thế thái, cho sự thế đảo điên mà gởi gấm tâm sự của mình qua vần thơ như Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương… Có phải chăng đây là nét đặc thù của tinh thần Phật giáo mà thế gian không làm sao có được. Qua đó, chúng ta càng không thể kết luận lối sống, cái nhìn của nhà Phật là bi quan yếm thế, bởi vì hơn ai hết Huy Cận thừa biết rằng: “Đau đời có cứu được đời đâu”. Và chính những người có trách nhiệm cầm cán cân công lý, mà đành phải bó tay với thời cuộc để từ quan về sống ẩn dật nơi miền quê xa vắng, vui với “Tiếng sáo vo ve triều nước vọng/ Con thuyền len lỏi bóng trăng trôi”. Và ở đây, một lần nữa chúng ta lại gặp sự ngẫu nhĩ tương phùng của hai đời sống Đạo - Đời cùng hòa vào thiên nhiên, sông nước. Nhưng một bên là ẩn sĩ còn một bên là sĩ phu ẩn dật, đồng có tâm trạng xa lánh những phiền não, thương đau, để tìm cho mình giá trị đúng như thật của cuộc sống nhân bản là vô ngã, vị tha.

Huy Cận đã dùng bút pháp tài tình để đúc kết thành một bài thơ hay từ nội dung lẫn hình thức, qua những hình ảnh các pho tượng La Hán, lột tả được tận tâm hồn của những con người sống thực trong xã hội; đánh dấu sự tìm kiếm của nhà thơ trước muôn vàn cuộc sống, thể hiện đầy chất trí tuệ của thơ ca. Bằng ngôn ngữ tinh lọc, cảm xúc sâu sắc, những từ ngữ tượng hình “trầm ngâm”, “thiêu đốt”, “gân vặn bàn tay”, “nửa như khói ám, nửa sương tàn”… và từ tượng thanh “máu sôi”, “bão nổ”, “cuồn cuộn”… tác giả đã giúp chúng ta nhận thức được những thành tựu rực rỡ của nền nghệ thuật, của những nghệ nhân điêu khắc vào thế kỷ XVIII; đồng thời sáng ngời niềm tin vào một thời đại mới. Nói về thơ của Huy Cận, Xuân Diệu đã viết: “Những suy tưởng của Huy Cận không phải là trí tuệ, mà là tổng hợp suy nghĩ và xúc cảm từ cá biệt cụ thể, mà mở rộng ra đến toàn bộ sự sống, đến toàn bộ vũ trụ”. Đồng thời, chúng ta có thể đánh giá được những tài năng lỗi lạc của những nghệ nhân tạc tượng vào thế kỷ XVIII. Qua bút pháp tuyệt vời của Huy Cận, chúng ta đã nhìn thấy được tận tâm hồn của những pho tượng, tiêu biểu cho hình ảnh người dân Việt Nam đau thương, tủi nhục của kiếp người nô lệ, đang khát khao tìm được cho mình và người một con đường giải thoát, một chân lý giác ngộ.

 

 

 

 

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan