CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Quán chiếu Khổ Đế - Những cảm thọ và thân chứng - Phần 2

 III. THỂ HIỆN TÍNH KẾ THỪA QUA PHƯƠNG CHÂM: “NỐI TRUYỀN THÍCH CA CHÁNH PHÁP - ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ VIỆT NAM”

1. Kế thừa tính tổ chức

Thành lập Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam với chủ trương: 1 Tăng là 4 vị; 1 tiểu giáo hội là 20 vị, 1 trung giáo hội là 100 vị và 1 đại giáo hội là 500 vị chung sống hoà hợp trong tinh thần Tam tụ – Lục Hoà.

2. Kế thừa phẩm hạnh xuất gia giải thoát

- Nhà sư xuất gia là sống đời sống phạm hạnh; tam y nhất bát và đi trì bình khất thực.

- Độc cư thiền định để đạt thân chứng và đi giáo hoá.

3. Kế thừa nhận thức và hành trì đúng theo chánh pháp (chánh báo và y báo: thân tướng và tâm tánh trang nghiêm thanh tịnh).

- Bộ Chơn Lý gồm 69 quyển do Tổ sư biên soạn, để cụ thể hoá những ý pháp căn bản trong kinh - luật - luận nhằm hướng dẫn những Tăng, Ni và Phật tử hữu duyên cùng thực hành để thành tựu tâm nguyện.

4. Cụ thể hoá kinh- luật- luận, những lời dạy về pháp tu tập thiền định của Đức Phật đi vào đời sống thực tiễn:

a. Chơn lý Võ Trụ Quan (số 1): Trình bày về sự hiện hữu của vũ trụ, thế giới và nguồn gốc sự có mặt của con người.

(…) Kìa như sắc ấm: Đất, nước, lửa, gió sanh thọ là sự sống; ấm của đất sanh nhựa chỉ; nhựa chỉ đất nước sanh rễ, cỏ, cây, thú. Cỏ cây có giống là hột, thú có giống là tinh ba, mà sanh sản.

Cỏ cây sanh thú, đồ vật thành máu thịt xương da; thú sanh người, người đến Trời, trời đến Phật. Cây sanh trái, cỏ sanh hoa, sự biến hóa khôn lường, có rồi sanh thêm có; từ không đến có, có rồi lại không, thay qua đổi lại. Lửa trong địa cầu lăn, vạn vật vô thường tiến, chớ không phải thối. Từ vật chất đến tinh thần, từ ác đến thiện. Tinh thần không chật, vật chất không hao, sự nó là có, lý nó là không. Cho nên ai biết lẽ không rồi, chẳng còn phải khổ, điên, mờ quáng, về sự thay đổi lăn xoay nữa. (...)

b. Chơn lý Ngũ Uẩn (số 2) và Lục Căn (số 3): Trình bày rõ về ngũ uẩn và lục căn, những thành tố, những phức hợp tạo thành con người hiện hữu và đó cũng chính là sự làm nên Khổ đế và sự hiện hữu của Khổ đế.

(…) Thuyết ngũ uẩn của một đời người, từ lúc ở trong thai bào, đến khi sanh ra, tuần tự theo lớp tuổi của sắc thân tiến hóa… Thuyết ngũ uẩn của con người, từ khởi điểm của vọng thức cho đến lúc có sắc thân, hay từ lúc có thân hình lần lần đến thức trí... Thuyết ngũ uẩn bởi vọng pháp, chấp nhận sắc, thọ, tưởng, hành, thức bằng lối mê tríu mà khổ... Thuyết ngũ uẩn chia hai pháp: Có và không, thiện và ác, giác và mê, lớn và nhỏ, thân và tâm, chủ và khách... Thuyết lý vốn không cùng, cho nên ngũ uẩn phải bị phân tách ra từng loại pháp môn, nhưng tóm lại cũng không ngoài chơn lý: “Làm cho con người mau giác ngộ”. Để khi giác ngộ rồi, con người tìm ra lẽ sống an vui, không còn khổ não với sự vọng lầm, chấp lấy cõi đời là thật, cái thân ta là thật. (…)

(…) Tiếng nói sát lục căn, trảm lục trần, diệt lục thức không phải là giết bỏ nó, mà hãy sống, bằng hiểu biết lấy trí tánh làm căn, huệ chơn làm trần, đem mình làm Trời, Phật, bỏ qua, quên mất, coi như không, đừng cố chấp, tham vọng, cảnh giới của người, thú, cây, cỏ, đất, nước nữa, mới hết khổ, mới yên vui và tấn hóa được. Có không tiếc, không ham tưởng thật mới là giác ngộ, giải thoát, trong sạch, tiến hóa.

Nơi loài người có mười tám giới:

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, thiếu, xấu là ác căn.

Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp nhiều tốt là ác trần.

Thấy, nghe, hửi, nếm, rờ, tưởng có có là ác thức.

Tức là mười tám cõi địa ngục.

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý lành tốt là thiện căn.

Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp ít xấu là thiện trần.

Thấy, nghe, hửi, nếm, rờ, tưởng không không là thiện thức.

Tức là mười tám cõi thiên đường.

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý vọng động là ma căn.

Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp cấu loạn là ma trần.

Thấy, nghe, hửi, nếm, rờ, tưởng mê nhiễm là ma thức.

Tức là mười tám cõi ma.

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý chơn như là Phật căn.

Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp tịnh định là Phật trần.

Thấy, nghe, hửi, nếm, rờ, tưởng không mê nhiễm là Phật thức.

Tức là mười tám cõi Phật. (…)

c/. Chơn lý Thập Nhị Nhân Duyên (số 4): Trong bài này, Tổ sư đã chỉ rõ về Nhơn và Quả của mười hai nhân duyên:

(…)

1.

Nước đất một loại.

2.

Cỏ cây một loại.

3.

Thú người một loại.

4.

Trời Phật một loại.

Chúng sanh bởi từ kiếp trước vô minh, hành ác, gây nhơn, nên mới phải nhập thai sanh thức, danh sắc, lục nhập là kết quả hiện tại, mới có thân hình. Bởi có thân hình, mới có xúc, thọ, ái, thủ, hữu, là gây nhơn hiện tại, để chịu sanh tử đời sau, là quả vị lai khổ não.

Vậy muốn không quả vị lai: sanh, tử, khổ, thì đừng có nhơn hiện tại: xúc, thọ, ái, thủ, hữu.

Muốn không nhơn hiện tại: thì phải không quả hiện tại: thức, danh sắc, lục nhập.

Muốn không quả hiện tại, thì phải dứt trừ nhơn quá khứ, vô minh, hành.(…)

5. Chơn lý Pháp Chánh Giác (CL. số 52), Chơn Như (CL. số 55), v.v... chính là khẳng định an trú Niết bàn (Diệt đế).

IV. KẾT LUẬN

1. Tam bảo là Phật - Pháp - Tăng, 3 ngôi báu luôn thường trụ trong đời

Dù trẻ hay già, khoẻ hay bệnh, dù ở bất cứ quốc độ nào, niềm tịnh tín Tam bảo luôn là bất biến không di dịch. Chẳng những vậy, càng sống lâu trong đạo, càng rạng rỡ, phong quang. Tam bảo luôn là bóng mát lớn, niềm an trú hạnh phúc thật sự cho người tu; đặc biệt là hành giả tu tập thiền định.

2. Khẳng định phương pháp tu tập thiền định căn bản, thực tiễn và thân chứng

Hành giả tu tập thiền định luôn kiên định, mài miệt trong sự hành trì. Không bỏ phí thời gian, không xa rời mục đích. Phương pháp tu tập mà nhận thức chính là định vị lộ trình. Những hành giả tu tập, luôn kiên nhẫn theo định hướng, nhất định một ngày sẽ đạt đến mục tiêu.

Quán chiếu, tỏ rõ nhân và quả của Khổ đế và Tập đế để đoạn trừ tận gốc rễ sanh tử.

Quán chiếu tu tập Đạo đế một cách bền vững, thực tiễn để đi đến thân chứng thành tựu, an trú Diệt đế - Niết bàn.

Tịnh xá Ngọc Đà - Đà Lạt, 5/11/Canh Dần.

Sa môn Giác Toàn

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan