CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Pháp ngữ khóa tu lần 8

Đáp ứng tâm nguyện của chư Tăng trong Hệ phái mong muốn có điều kiện sống tu học và hành đạo với tinh thần: “Nên tập sống chung tu học, phép Tăng chẳng lìa đoàn”, chư Tôn Giáo phẩm nhất trí tổ chức khóa tu truyền thống Giới - Định - Tuệ để chư Tăng thực hành theo đúng lời dạy trên của Tổ.

Khai mạc chính thức vào mùa xuân năm 2010, đến nay khóa tu đã trải qua 8 lần tổ chức với quy mô ngày càng lớn làm nức lòng biết bao hàng Phật tử trong và ngoài nước. Điều đáng mừng là khóa tu ngày càng tăng trưởng về số lượng lẫn chất lượng. Đạt được thành quả này chính là nhờ sự gia hộ của chư Phật, đức Tổ sư và chư vị đức Thầy, và cũng do chúng ta thực hành đúng chánh pháp.

Khóa thứ nhất: diễn ra vào tháng 3 năm 2010 do Giáo đoàn I đăng cai, tổ chức tại Tổ đình TX. Ngọc Viên, tỉnh Vĩnh Long với 34 hành giả tham dự.

Khóa thứ hai: diễn ra vào tháng 9 năm 2010 do Giáo đoàn II đăng cai, tổ chức tại đạo tràng TX. Trúc Lâm, tỉnh Bình Thuận với 45 hành giả tham dự.

Khóa thứ ba: diễn ra vào tháng 11 năm 2010 do Giáo đoàn III đăng cai, tổ chức tại đạo tràng TX. Ngọc Đà, thành phố Đà Lạt với 88 hành giả tham dự.

Khóa thứ tư: diễn ra vào tháng 3 năm 2011 do Giáo đoàn IV đăng cai, tổ chức tại đạo tràng TX. Mộc Chơn, tỉnh Tiền Giang với 79 hành giả tham dự.

Khóa thứ năm: diễn ra vào tháng 9 năm 2011 do Giáo đoàn V đăng cai, tổ chức tại đạo tràng TX. Ngọc Hòa, tỉnh Vĩnh Long với 83 hành giả tham dự.

Khóa thứ sáu: diễn ra vào tháng 11 năm 2011 do Giáo đoàn VI đăng cai, tổ chức tại đạo tràng TX. Ngọc Nhơn, tỉnh Bình Thuận với 100 hành giả tham dự.

Khóa thứ bảy: diễn ra vào tháng 3 năm 2012 do Giáo đoàn I đăng cai, tổ chức tại đạo tràng TX. Ngọc Tường, TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang với 120 hành giả tham dự.

Và khóa thứ tám: diễn ra vào tháng 9 năm 2012 do Giáo đoàn II đăng cai, tổ chức tại đạo tràng TX. Ngọc Nhơn, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định với 89 vị hành giả tham dự.

Như vậy, khóa tu của Hệ phái là con đường đúng đắn, kế thừa trọn vẹn đời sống từ đức Phật và Tổ sư nên cuốn hút hành giả phát tâm tham dự ngày càng đông. Đức Tổ sư đã dạy rõ trong bài “Y bát chơn truyền” rằng: “Người Khất sĩ chỉ có ba pháp tu học vắn tắt là Giới - Định - Huệ”. Khi vào tham dự khóa tu, nhờ oai đức của chư Tôn đức và sự nỗ lực tu tập chung nên chúng ta có được nhiều thuận duyên để viên mãn Giới - Định - Huệ nơi mỗi người. Quan trọng nhất là sự đoàn kết, hòa hợp của huynh đệ trong sáu giáo đoàn được thể hiện sâu sắc và ngày càng gắn bó hơn. Sự hòa hợp ấy được chúng ta thọ trì và tụng đọc mỗi ngày trong bài Thọ bát với đầy đủ Tam đề, Ngũ quán Lục hòa.

Điều này rất phù hợp với lời đức Phật dạy trong kinh Tăng Chi Bộ, chương Sáu Pháp như sau:

Có sáu pháp này cần phải ghi nhớ:

1. An trú thân hành với lòng từ đối với các đồng phạm hạnh trước mặt cũng như sau lưng, đây là pháp cần phải ghi nhớ thứ nhất.

2. An trú lời nói với lòng từ đối với các đồng phạm hạnh trước mặt cũng như sau lưng, đây là pháp cần phải ghi nhớ thứ hai.

3. An trú ý nghĩ với lòng từ đối với các đồng phạm hạnh trước mặt cũng như sau lưng, đây là pháp cần phải ghi nhớ thứ ba.

4. Đối với các lợi dưỡng nhận được đúng pháp do tín chủ hoan hỷ cúng dường ngay cả đến đồ nhận được trong bát cũng được chia đều cho các đồng phạm hạnh.

5. Đối với giới luật không bị sứt mẻ, không bị gãy vụn, không bị vết chàm, được người trí tán thán, có thể đưa đến thiền định, hướng đến vô lậu tâm giải thoát đều được hành trì.

6. Đối với tri kiến của bậc Thánh hướng thượng khiến người thực hành có thể đoạn tận khổ đau đều được định hướng như nhau, không có gì chống trái nhau.

Có một điều đại chúng cần nhận thức là khi Phật giáo phát triển khắp năm châu thì pháp môn tu hành phân hóa vô cùng đa dạng. Do đó, chúng ta cần phải hết lòng cầu học và luận đàm với nhau để thấu tỏ chơn lý. Nên nhớ rằng một người nhận thức đúng chơn lý thì tu hành mới có kết quả, còn nhận thức sai thì không bao giờ đạt mục tiêu gì cả. Vậy thì, nghe và đọc chính là hai phương tiện hữu hiệu để chúng ta tiếp nhận chơn lý. Chúng ta cần phải chú ý thái độ của mình trong khi tiếp nhận những lời dạy của các bậc đạo sư khi tầm cầu giáo pháp. Trong phần mở đầu các bài kinh, đức Phật luôn nhấn mạnh: “Này các Tỳ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý”. Sự khéo tác ý là biểu hiện thái độ chân chính của người tiếp nhận giáo pháp. Từ thái độ chân chính đó mới đưa đến kết quả sau khi nghe pháp là hoan hỷ và tín thọ các lời dạy. Tùy theo kinh nghiệm tu tập mà mỗi người sẽ có mức độ cảm nhận khác nhau. Tuy nhiên nếu hiểu sai sẽ không bao giờ chứng đạt chơn lý.

Một người tu hành muốn bước lên hàng Thánh quả phải dứt bỏ những nhận thức phàm phu. Vì nhận thức phàm phu làm chúng ta giới hạn trong thế gian dẫn đến không bao giờ thoát khỏi thế gian. Theo kinh “Căn bản pháp môn” thuộc Trung Bộ kinh, thì phàm phu là những kẻ không đến yết kiến, không nghe pháp và không tu tập với các bậc Thánh nhơn và bậc Chân nhơn. Do vậy, hàng phàm phu chỉ có tưởng tri với 24 pháp. Tưởng tri ở đây là sự thấy biết sai lầm về sự giả tạm của thế gian.

Con đường tu học của hành giả xuất gia là phải thành tựu chánh tri kiến. Nam truyền gọi là thành tựu pháp nhãn còn Thiền tông gọi là kiến tánh. Thiền Tông luôn quan niệm một hành giả tu thiền phải cất bước du phương tìm kiếm thiện tri khai ngộ cho kiến tánh. Chỉ khi nào kiến tánh rồi mới có thể dụng công tu hành đạt thành tựu đạo quả. Tư tưởng này gọi là Kiến tánh khởi tu, như Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đã dạy: “không kiến tánh thì tu hành luống công vô ích”.

Cũng theo kinh “Căn bản pháp môn”, tư tưởng thành tựu chánh tri kiến cũng không khác xa gì với quan niệm nhà Thiền: Một người muốn có chánh tri kiến hay còn gọi là Thắng triLiễu tri thì phải đến yết kiến, nghe pháp và tu tập với bậc Thánh nhơn và bậc Chân nhơn. Và trong khi tiếp nhận phải thể hiện đúng tinh thần nghe từ người khác với tâm suy tư hay nghe với như lý tác ý.

Trong thời buổi hiện nay, việc thân cận và học pháp từ bậc Thánh là vô cùng hy hữu. Chúng ta không dám chắc mình có đủ duyên phước để gặp các Ngài hay không, vì vậy chúng ta cần phải nương vào đại chúng để thực hành con đường tiệm tu.

Vấn đề cần quan tâm đầu tiên đó là môi trường tu học. Môi trường tác động rất lớn đến đời sống của chúng ta. Nếu sống trong một môi trường thuận tiện thì có thể phát triển Giới - Định - Tuệ, còn nếu môi trường không thuận tiện thì Giới - Định - Tuệ không thể tăng trưởng.

Một người tu hành đúng nghĩa phải có tinh thần biết sống một mình. Dù ở giữa đại chúng đông đúc cũng không nên để tâm quá ưa thích đám đông.

Đức Phật có dạy trong Kinh Hội Chúng trong Tăng Chi rằng: “Có Tỳ-kheo ưa thích hội chúng, vui thích hội chúng, chuyên tâm ưa thích hội chúng, ưa thích đồ chúng, vui thích đồ chúng, chuyên tâm ưa thích đồ chúng. Tỳ-kheo ấy sẽ không thể nào hoan hỷ sống một mình, không thể sống viễn ly, không nắm giữ được tướng của tâm, không thể viên mãn chánh kiến, không thể viên mãn chánh định, không thể trừ bỏ các kiết sử và không thể chứng đắc Niết-bàn. Trái lại, có Tỳ-kheo không ưa thích, không vui thích, không chuyên tâm ưa thích hội chúng, không ưa thích, không vui thích, không chuyên tâm ưa thích đồ chúng, Tỳ-kheo ấy có thể hoan hỷ sống một mình, sống viễn ly, nắm giữ được tướng của tâm, viên mãn chánh kiến, viên mãn chánh định, trừ bỏ các kiết sử và chứng đắc Niết-bàn”.

Người thích đám đông tâm luôn xao động và dễ phát sinh hý luận. Đây là một trở ngại rất lớn cho tiến trình tu tập của mỗi người. Đức Phật luôn khuyên chúng ta nên tìm đến gốc cây, bãi tha ma, nơi nhà trống để thiền tập chứ không bao giờ khuyên chúng ta đi tìm hội chúng đông người cả.

Vấn đề cần quan tâm thứ hai đó là nghiêm trì giới luật. Một hành giả thực hành giới luật đúng pháp phải đầy đủ 4 yếu tố:

1. Thọ trì giới Patimokha.

2. Giới thu thúc lục căn.

3. Tiết độ trong ăn uống.

4. Chú tâm tỉnh giác và chánh niệm tỉnh giác.

Đời sống xuất gia nhờ vào giới nên tam nghiệp thuần thiện mà dễ vào chánh định. Chúng ta sống càng giản dị chừng nào tâm càng dễ định chừng ấy. Thói quen của tâm phàm phu là luôn mong cầu dục lạc. Đây là món đầu tiên trong năm triền cái cản trở chúng ta chứng đắc các tầng thiền. Việc giữ giới có khả năng giúp chúng ta ly dục, cho dù chúng ta chưa đủ cơ duyên nhập định thì giới cũng mang đến cho ta ngăn ngừa những ô nhiễm và từ đó có thể phát triển sự tập trung tâm rất sâu.

Đời sống xuất gia giúp chúng ta giữ giới dễ dàng hơn người cư sĩ rất nhiều. Người tại gia luôn bị gánh nặng trong trách nhiệm gia đình và sự luyến ái nên tham sân si thường xuyên sinh khởi. Điều này là một sự tù túng trong cuộc đời nên không thể nào thực hành được giới như người xuất gia. Kinh tạng có viết lại sự kiện Thích tử Mahanama bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, con biết rõ tham sân si là cấu uế của tâm, nhưng con không biết trong tâm con còn có pháp nào chưa được trừ diệt nên thỉnh thoảng tham sân si vẫn còn khởi lên”. Đức Phật dạy: “Do ngươi còn sống đời sống gia đình nên tham sân si thỉnh thoảng vẫn còn khởi lên”.

Vì vậy, chỉ có người xuất gia mới dễ dàng thực hành trọn vẹn giới luật của bậc Thánh. Tuy nhiên, muốn hành trì giới tốt, trước nhất cần phải biết chánh niệm. Chánh niệm là một phép lạ giúp chúng ta ghi nhận các pháp sanh khởi và ghi nhận nhiều pháp lành trong cuộc sống. Chúng ta cần phải rèn luyện chánh niệm trong mỗi oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi. Ngay cả các sự động niệm dù là nhỏ nhất cũng cần phải chánh niệm ghi nhận. Nhờ chánh niệm liên tục vào oai nghi mà chánh niệm có thể phát triển thành chánh định. Dĩ nhiên, ban đầu thực hành chánh niệm rất khó khăn vì tâm phàm chưa dứt thì rất dễ xao lãng. Phải trải qua thời gian lâu ngày thì chánh niệm mới trở thành một thói quen tích cực.

Đức Phật dạy trong Kinh Điều ngự địa thuộc Trung Bộ Kinh rằng người thực hành chánh niệm cũng như người nài huấn luyện con voi. Một con voi bị bắt về, nó luôn nhớ đến rừng xanh. Nó luôn gào rống giận dữ, không chịu ăn uống và chẳng biết nghe lời. Bấy giờ người nài lấy dây chắc cột nó vào một chiếc cọc đóng chặt vào đất. Ban đầu con voi ấy giãy dụa nhưng không thể nhổ được chiếc cọc. Dần dần, nó hết nhớ rừng, biết nghe lời và chịu ăn cỏ, uống nước. Như vậy, con voi này sẽ sống khỏe mạnh. Một hành giả huấn luyện tâm chánh niệm cũng y như thế. Bản tánh nhớ rừng là ẩn dụ cho tánh dục. Sợi dây là dụ cho chánh niệm. Chiếc cọc là đề mục tham thiền. Uống nước ăn cỏ dụ cho nghe kinh học pháp. Hàng đệ tử Phật ban đầu không chịu nghe pháp nhưng nhờ vào chánh niệm trên các đề mục nên dần dần tánh dục mất đi. Vị ấy bắt đầu chú tâm lắng nghe, bắt đầu tiếp nhận giáo pháp. Vì vậy, vị ấy có thể nếm được hương vị giáo pháp và tồn tại được trong giáo pháp.

Việc hành trì giới cũng có khả năng giúp chúng ta giữ thăng bằng được thân tâm. Sở dĩ con người đau khổ là vì họ quá nô lệ cho xác thân ngũ uẩn. Đây là hạng người đam mê dục lạc quá nhiều. Do đó, khi tu tập cũng quen với nếp hưởng thụ mà rơi vào một cực đoan thứ nhất là thực hành các pháp thái quá: Thái quá trong ăn ngủ và thái quá trong sự tinh tấn. Hạng người thứ hai bị khổ áp bức quá nhiều nên khi tu tập có thể rơi vào trường hợp thực hành các pháp bất cập. Đây là tư tưởng dùng khổ diệt khổ. Cả hai trường hợp này đức Phật đều không tán thành. Khi chưa thành đạo, đức Phật đã từng thọ hưởng dục lạc sung mãn thuở còn là thái tử. Khi xuất gia tầm đạo, Ngài thực hành các pháp khổ hạnh không ai sánh bằng. Thế mà cả hai không mang đến cho Ngài sự giác ngộ tối hậu. Cuối cùng, Ngài tìm ra lối tu trung đạo và chứng qua toàn giác dưới cội Bồ-đề.

Bài kinh đầu tiên trong Tương Ưng Bộ, kinh Bộc lưu, đức Phật đã thể hiện rõ quan điểm này. Có một vị Thiên đến bạch Phật rằng:

- Làm thế nào Ngài thoát khỏi bộc lưu?

Đức Phật dạy:

- Không đứng lại, không bước tới ta thoát khỏi bộc lưu.

Vị Thiên lại hỏi:

- Tại sao không đứng lại, không bước tới Ngài thoát khỏi bộc lưu?

Đức Phật dạy:

- Vì đứng lại thì bị chìm đắm, còn bước tới thì bị trôi dạt.

Vị Thiên hoan hỷ và đã đọc kệ tán thán đức Phật:

Từ lâu, tôi mới thấy
Bà-la-môn tịch tịnh.
Không đứng, không bước tới,
Vượt chấp trước ở đời.

Theo ý nghĩa bài kinh trên, quá trình tu hành ta phải thật khéo léo. Một người được gọi là đứng lại là người đang giải đãi trong sự hành pháp. Do giải đãi cho nên dễ rơi vào sự hưởng thụ dục lạc với tâm tham ái và cũng có thể biểu hiện ra các trạng thái như hôn trầm, thụy miên. Còn người được gọi là trôi dạt là những người tinh tấn qua mức, mong cầu quả vị. Do tinh tấn quá mức, mong cầu quả vị nên dễ bị phóng tâm, vọng tưởng và có thể biểu hiện ra ngoài bằng những hành động thô tháo hay trạo cử.

Tín nữ Visakha khi còn 7 tuổi khi nói về chánh niệm trong oai nghi đã cảm xúc bài kệ rằng:

 

Vua hối hả mất đi vương cách

 

Tượng chạy ào mất cả uy phong

 

Sa môn xốc xếch khó trông

 

Nữ nhơn chạy nhảy còn ra thể gì?

Như vậy, một ngươi có sự chánh niệm luôn biết thu thúc lục căn, hành trì giới luật trang nghiêm, có sự tiết chế trong ăn uống và cân bằng được thân tâm. Nếu tha thiết hành trì với tâm chánh niệm này thì việc tu học chắc chắn rất có tiến bộ vậy. Ở đây, chúng ta có thể xúc cảm là khi chánh niệm không để sa vào hai pháp thái quá và bất cập, hành giả có thể xả ly được sự chấp trước. Chỉ cần buông bỏ chấp trước là ta thực hành được lý trung đạo. Như lời đức Phật đã dạy: “Ai chấp trước thì bị ác ma trói buộc, ai không chấp trước thì thoát khỏi ác ma”.

Vấn đề cuối cùng là tri kiến thanh tịnh. Tri kiến thanh tịnh là tri kiến vô lậu, đi lên từ thực hành viên mãn giới luật và viên mãn chánh định mới có. Tri kiến này còn gọi là tuệ giải thoát, chánh tri kiến hay thành tựu pháp nhãn.

Vậy thì ngoài con đường tu định ra không có con đường nào khác để thành tựu chánh tri kiến. Hàng ngoại đạo tu thiền là để mưu cầu sự hỷ lạc của thiền vì họ lầm chấp đấy là cảnh giới Niết-bàn. Còn hạng khác tu thiền để mong cầu thần thông du hý vì họ đề cao bản ngã nên rất kiêu ngạo vì những sở đắc này.

Tu định không phải một sớm một chiều mà có kết quả. Đây là con đường nhiều gian nan cần phải nỗ lực qua một quá trình dài lâu với những bước đi căn bản. Việc căn bản nhất là phải hoàn thiện về giới. Từ hoàn thiện giới mới hoàn thiện định và chánh tri kiến mới phát sinh.

Vậy chánh tri kiến phát sinh như thế nào?

Khi một hành giả chứng đắc các tầng thiền, tâm vị ấy vô cùng định tĩnh. Nhiều người lầm nhận đây là Niết-bàn, là quả vị A-la-hán. Trên thực tế dưới cái nhìn của bậc giác ngộ, cảnh giới của Tứ thiền và Tứ không định vẫn nằm trong thế gian. Thế gian được dịch từ tiếng Pali là Loka, nghĩa là cái gì còn bị sanh diệt, bị tan rã, bị phá hoại, còn đau khổ. Cho nên, dù chứng đắc tứ thiền vẫn còn bị sanh tử. Kinh văn ghi chép có một số hành giả vào tứ thiền vẫn bị hoàn tục. Và bằng chứng là hai vị thầy dạy đạo cho Bồ-tát khi chưa thành Phật là Alara Kalama chứng đắc Vô sở hữu xứ định và Uddhaka Ramaputta chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ mà vẫn còn bị tái sinh.

Cho nên, một hành giả tu đúng lộ trình để phát sinh chánh tri kiến là cần phải có một trạng thái tâm cực kỳ định tĩnh, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vị ấy hướng tâm đến sự thật về thế giới. Nghĩa là vị ấy không còn mê lầm đối với khổ. Vị ấy không còn mê lầm đối với nguyên nhân của khổ. Vị ấy chứng nghiệm đối với sự vắng mặt khổ. Vị ấy không còn mê lầm đối với con đường đưa đến sự chấm dứt khổ. Vị ấy liễu tri tứ đế. Đây là chánh tri kiến của bậc Thánh. Hay nói theo cách khác, với tâm nhu nhuyến, dễ sử dụng, vị ấy hướng tâm đến sự thật về tự thân (thế giới). Vị ấy liễu tri vô thường, khổ, vô ngã. Nhờ liễu tri như vậy vị ấy chứng đắc bốn đạo và bốn quả.

Đây là mục tiêu tối hậu, là con đường mà tất cả chúng ta cần phải nỗ lực cả đời để chứng đạt. Ít nhất mục tiêu của chúng ta phải thành tựu cho được pháp nhãn ly trần hay chánh tri kiến ở địa vị sơ quả Tu-đà-hoàn thì con đường sanh tử mới mong xuất ly.

Tóm lại, khóa tu truyền thống tạo điều kiện cho tất cả hành giả điều kiện sống chung tu học rất thuận lợi. Vào khóa tu, chúng ta có đủ cơ hội thực hành chánh niệm, nghiêm trì giới luật, chuyên hành thiền định. Tất cả cần phải nỗ lực hết mình, sống và tu tập với tinh thần cầu tiến và hòa hợp một lòng để góp phần tạo ra bầu năng lượng lớn để chuyển hóa tham sân si, phát khởi tri kiến như thật về thế giới.

Thực chất, tu chẳng có gì xa lạ như ý pháp của cố Trưởng lão Tri sự Giác Như: “Chỉ đơn giản là thân khẩu ý giữ cho trong sạch; tham sân si phải đoạn trừ; giới định huệ phải cho viên mãn”. Thành tựu được theo lời dạy này thì kết quả giải thoát chỉ nằm trong tầm tay.

Kết quả đó không phải ao ước, suy tưởng hay mong cầu suông. Chỉ cần chúng ta sống trọn vẹn trong nhà đạo thì sớm hay muộn đạo cũng sẽ thành. Hãy sống đúng với lời dạy của đức Phật: “Trực hạnh là đệ tử Thế Tôn, diệu hạnh là đệ tử Thế Tôn, ứng lý hạnh là đệ tử Thế Tôn, chơn chánh hạnh là đệ tử Thế Tôn”.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan