CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Vấn đề sám hối

Khi còn bon chen với sự sống ở thế gian, dầu vô tình hay cố ý thì cũng còn vấp phải những lỗi lầm. Do đó, để hướng dẫn con người trở lại đời sống thiện lành chơn chất, đạo Phật lập ra phương pháp cải sửa lần thân, khẩu và ý xấu xa tội lỗi nơi mỗi con người. Phương pháp cải sửa ấy, thuật ngữ đạo Phật gọi là sám hối. Nhưng có nhiều người ở đời lại mỉa mai, cho đó là việc làm của những kẻ mê tín vu vơ, ỷ lại thần quyền hay là sự viễn vông vô ích. Phải chăng đó là quan niệm đúng lý? Để trả lời cho quan niệm nầy, chúng tôi xin trình bày một vài nét chính yếu về vấn đề sám hối của đạo Phật.

Thưa quí vị,

Đức Phật dạy: “Phàm còn xuống lên ba cõi (dục giới, sắc giới, vô sắc giới), lăn lộn trong sáu đường (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la, nhơn, thiên) thì không một loài nào được hoàn toàn trong sạch, không một giống nào dứt hết tội lỗi cả”.

Thật vậy, cõi đời đã gọi là trần bụi ô trược thì những loài ở trong cõi nầy làm sao trong sạch được. Nếu con người cứ mãi mê đắm dấn thân trong bụi bặm, thích đắm mình lăn lộn trong bùn nhơ thì chẳng nói làm chi, bằng như đã muốn trong sạch thảnh thơi, muốn khước từ tội lỗi cho tâm hồn được nhẹ nhàng thoải mái, tất nhiên phải hối lỗi ăn năn để tìm cầu phương pháp giải trừ sự xấu xa tội lỗi đó mới được. Phương pháp hoán cải lỗi lầm của thân, khẩu, ý lại là phương pháp sám hối của đạo Phật.

Vậy Sám hối là gì? Sám hối là ăn năn những điều tội lỗi mà mình đã lỡ gây ra và quyết sửa đổi, nguyện không tái phạm nữa. Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật dạy: “Nếu tội lỗi của chúng sinh có hình tướng thì tất cả hư không cũng không thể chứa hết”.

Quả vậy, tội lỗi của chúng sinh rất nhiều, có thể gọi là vô số. Sự sống của chúng sinh tiếp nối, liên lạc từ đời nầy đến kiếp khác như sợi dây xích kéo dài vô tận, rồi cứ mỗi đời qua lại tạo thêm tội mãi. Cái oan nghiệp chất chồng chất từ nhỏ đến lớn, tạo thành một sức mạnh gọi là nghiệp lực, dắt dẫn chúng sinh vào đường khổ não mê lầm, tức nẻo luân hồi sanh tử mà ta đang thọ lãnh. Nhưng nếu ta may mắn gặp được Phật pháp, gội rửa bớt những sở kiến lạc lầm, biết kiểm soát hành vi và tâm niệm thì có thể cải thiện bước tiến tương lai.

Theo đạo Phật, sám hối không có nghĩa là ỷ lại vào một quyền lực bên ngoài, mà chính là sự phản tỉnh xa lìa những hành động, tâm niệm tội lỗi đã trót vướng phải. Nếu việc lầm lỗi đã biết được mà không hoán cải là cố tình dung dưỡng nó, và chính hành động ấy đã dọn đường trầm luân đau khổ cho kiếp lai sinh.

Khi xưa, chư Phật, chư Bồ-tát vì thương chúng sinh bị sa đọa nên mới lập ra phương pháp sám hối nầy để dẫn dắt chúng sinh đoạn trừ tội cũ, cùng y lời giáo huấn của các Ngài mà an vui tu hành tiến hóa.

Lại nữa, trong khi đọc kinh sám hối trước sự hiện diện của Phật, Pháp, Tăng, Tam bảo là để chứng minh rõ ràng lòng thành thật ăn năn việc làm quấy ác của mình, luôn luôn nhắc nhở trong tâm phải xa lánh, chán ghét những điều tội lỗi, chớ không phải đó là thể thức suông buộc lòng phải đọc, hay đọc tụng trước các Ngài để được các Ngài tha tội cho đâu. Vì ta có làm tội tình gì với các Ngài đâu mà bảo các Ngài dung thứ?

Chính Kinh Pháp Cú dạy rằng: “Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm / Chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho ta / Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta / Không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch hay ô nhiễm”.

Sự thật đã được xác định như vậy. Cho nên, dù Đức Phật cũng không thể gội rửa sự nhơ bẩn trong tâm linh kẻ khác, cũng không thể làm hoen ố tâm linh kẻ khác được. Các Ngài chỉ có thể giúp đỡ bằng cách vạch ra phương pháp, nhưng chính ta phải có nhiệm vụ sử dụng để làm trong sạch thân tâm của chính mình.

Trong kinh cũng có dạy: “Tội tùng tâm sanh, tội tùng tâm diệt”. Nghĩa là tội lỗi do tâm sanh và cũng do nơi tâm hủy diệt. Khi tâm mê muội, tội khi đó khởi sanh; khi tâm đã sáng suốt giác ngộ, tức tội theo đó mà hủy diệt. Vì tâm đã sáng suốt thì việc làm nào có sái quấy, việc làm đã không sái quấy thì tội lỗi lấy động cơ nào để sanh trưởng?

Cho nên, đọc kinh không phải để thỉnh nguyện mong cầu ơn thiên triệu, dầu có vái trọn đời cũng không được gì hết. Đức Phật không thể ban bố ân huệ cho người cầu nguyện. Sự cứu rỗi thiết thực nhất là Ngài dạy chúng đệ tử không nên cầu nguyện suông mà phải thực hành, cố gắng trau dồi đức tánh, kiên trì tu tập để tâm hồn đạt đến tự do và trong sạch. “Hãy coi ta như người dẫn đường, chính các con phải tự cố gắng để đi,” (Kinh Pháp Cú), đó là một lời dạy có ý nghĩa rất thâm thúy, và là một liều thuốc bổ khích lệ khả năng sẵn có của mỗi chúng sinh.

Đến đây tưởng cũng cần nên để ý là không nên nhận lầm cho sự hành lễ là vô ích, mà phải nhận thức rằng: Khi gieo mình đảnh lễ trước chân dung chư Phật là để tỏ lòng tôn kính, ngưỡng mộ đến lý tưởng siêu việt giải khổ; khi dâng hương, hoa, trà, quả, không phải dâng đến những bức tượng bằng đá, gỗ hay giấy, mà đến với Đức Phật được tượng trưng qua ảnh tượng. Tất cả là biểu hiện tấm lòng tri ân vô hạn với bậc bề trên. Cùng lúc ấy, ta suy gẫm về công hạnh cao siêu và giáo lý nhiệm mầu mà Đức Thế Tôn đã giáo huấn khi còn tại thế được lưu truyền cho đến hôm nay, để khơi dậy trong ta một niềm rung cảm chân thành và giục ta noi gương cao thượng của Ngài như đang sống với Ngài thực sự vậy. Sự thực, kinh điển nào cũng chứa đựng lý sự rất sâu xa, khi tu hành phải suy nghiệm kỹ càng mới khỏi bị lầm lẫn đáng tiếc.

Thưa quí vị, ở đời không ai là không tội lỗi, nhưng quí hay không quí là do nơi biết sửa chữa hay không thôi. Kinh Thủy Sám đã xác định: “Có hai hạng người đáng quí, một là biết sợ tội lỗi không dám gây ra, hai là có tội lỗi mà biết ăn năn sám hối.”

Dựa vào quan điểm trên, Trung Vân Tử cũng bảo: “Tai hại nhất là không chịu cải sửa điều lầm lỗi của mình.”

Có nhiều người nặng lòng mặc cảm, tự ái, sợ kẻ khác biết điều sái quấy của mình nên chẳng dám xưng tội sám hối; mảng chấp cái ngã ái, tích lũy tội ác lâu ngày, oan nghiệp nặng nề, đưa đẩy họ vào cảnh khổ đau thống thiết muôn kiếp ngàn đời, ví như kẻ nắm lưỡi gươm, càng xiết mạnh chừng nào càng bị thương thê thảm chừng ấy, đó là tự chuốc khổ cho mình vậy.

Đức Tôn sư Minh Đăng Quang gọi sám hối là con đường giác ngộ của chúng sinh, con đường đưa từ địa ngục khổ đau đến Niết-bàn an vui giải thoát. Ngài dạy: “Đạo Phật là sám hối, sám hối là giác ngộ, con đường của chúng sinh đó” (Sám Hối, 671:26). Cũng như Thái tử Tất Đạt Đa nhờ sám hối mới giác ngộ thành Phật, những người xuất gia cũng nhờ sám hối mới giải thoát làm Tăng, và những người tại gia cũng nhờ sám hối mới giác ngộ làm cư sĩ. Vậy chúng ta ai ai cũng nên phải ý thức nhiệt thành sám hối từ thân đến tâm trong mỗi lúc, để cuộc đời của mình được thêm tốt đẹp.

Tưởng không nên cố ý chần chờ nữa, vì cái lẽ sống chết quá lẹ làng, biết mình còn cơ hội để cải hóa những điều tội lỗi chăng hay chỉ đành ôm hận ngàn đời nơi chín suối?

Cũng vì nhận ra lẽ ấy, nên cổ nhân có câu: “Nhất thất túc, thành thiên cổ hận; Tái hồi đầu, thị bách niên thân”. Tạm dịch: Lỡ bước một phen ngàn đời ân hận; quay đầu trở lại chín suối ngậm ngùi.

Trong Cổ học tinh hoa có ghi câu chuyện sau đây: Ngày xưa, ở xứ Tàu, có một giống đười ươi mặt như mặt người, biết nói. Máu nó dùng để nhuộm màu rất tốt, khó phai nên người ta hay lừa để bắt nó. Tính đười ươi thích uống rượu và đi guốc. Người ta biết thế, bèn đem rượu và guốc bày la liệt ra quãng đồng nơi nó thường lui tới, rồi núp vào một chỗ. Đười ươi ngửi hơi rượu, kéo nhau tìm đến, thấy rượu guốc, biết người ta mưu gạt mình, bèn chửi rủa và nói thậm tệ đến ông cha những người ấy nữa. Đoạn bảo nhau bỏ đi, chúng lẩm nhẩm nói: “Chớ mắc mưu loài khốn nạn chực hại mình”. Song, đã đi còn ngoảnh đầu nhìn lại, rồi bảo nhau: “Mình cứ nếm chút xem sao, chắc không hại gì”. Thế là cả bọn tay chấm, miệng mút, bén mùi làm mãi đến say sưa mờ mịt, quên cả lời khôn lẽ phải gìn giữ bấy lâu, chếnh choáng nghiêng ngã, nói nói cười cười, sỏ chân vào guốc, rồi thất thểu bước đi. Bấy giờ, những người nấp đổ xô ra, đười ươi hoảng hốt, lảo đảo chạy, bị người ta bắt sạch, không sót con nào.

Câu chuyện trên là điển hình cho nhiều con người chúng ta hôm nay. Tuy vẫn biết bao nhiêu sự đam mê của mình là tai hại, thế mà cái mê muội tập tục như có một ma lực xúi giục, run rủi ta rủ nhau, đua nhau tìm đến mà say đắm không chừa. Đến khi té xuống vực sâu, vô thường réo gọi mới ăn năn sực tỉnh thì đã lỡ làng.

Vậy khi đã biết việc gì tai hại hôm nay, nên gấp rút xa lánh chớ hẹn đến ngày mai, vì càng lần lữa thì kết quả càng bi đát chớ chẳng ích gì. Ví như một người thấy lửa bén cháy ở mái nhà, lại hẹn chút nữa dập tắt cũng được, chừng khi ngọn lửa cháy bùng mới lăng xăng chạy chữa thì đã muộn màng, ví dầu chữa được chăng nữa cũng khó khăn và thiệt hại nặng nề.

Tóm lại, để trả lời quan niệm nêu ra ở đầu bài, ta nhận thấy rằng: Sám hối là một phương pháp thực nghiệm, không phải mê tín, hão huyền, vu vơ, không tưởng, như nhiều người đã lầm nhận. Đức Tôn sư Minh Đăng Quang đã khẳng định: “Chính sự sám hối mới là tu, có sám hối mới có tu, tu là sám hối.” (Sám Hối, 676:19) Do đó, sám hối trong đạo Phật chỉ có giá trị khi nào việc làm của con người thực sự cải hóa, không tái phạm, bằng trái lại chỉ là khỏa lấp để âm thầm dung dưỡng việc làm sái quấy ấy thôi. Hơn ai hết, người Phật tử, con của Đấng Giác ngộ cần phải luôn luôn đề cao cảnh giác hành động, tâm niệm, dù rằng phải tổn thương đến tham vọng xấu xa của mình, để làm cho đời sống cá nhân và cả cuộc đời được quang huy xán lạn.

(Nội san số 7, ra ngày 19-06-74)

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: