CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Nhiệm vụ nghiên cứu Tâm lý học của Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo

1. Nhận thức về Tâm thức học

Trong suốt cuộc đời giảng dạy và giáo hóa của đức Phật, Ngài chỉ nói hai điều, đó là: “Khổ và cách diệt khổ”, mà phương pháp để nhìn thấy khổ và cách diệt khổ của đức Phật chính là phương pháp nhìn vào tâm, kiểm soát và làm chủ tâm. Vì vậy, kiểm soát tâm, làm chủ tâm, tức làm kiểm soát và làm chủ được dòng tâm thức của mình.

Vậy, tâm thức là gì? Đức Phật đã nói gì về tâm thức? Hoạt động của tâm thức ra làm sao? Cách thức nhận biết và kiểm soát tâm thức như thế nào? Đó chính là lĩnh vực của bộ môn khoa học về Tâm thức, còn gọi là Tâm thức học.

Tâm thức học có từ bao giờ? Ai là những người đặt nền móng cho Tâm thức học?

Theo nghiên cứu và đánh giá của khoa học hiện đại về tâm thức trong ngành khoa học tâm lý và khoa học Tâm thức học thì các nghiên cứu cổ xưa nhất được ghi nhận về lĩnh vực tâm thức là của đức Phật, Plato, Aristotle, Adi Shankara (triết gia Ấn Độ giáo) và một số triết gia Hy Lạp, Ấn Độ cổ đại khác là những người khai sinh ra bộ môn khoa học này. Ngoài ra, còn có một số triết gia khác cũng đề cập đến tâm thức trong thời kỳ tiền khoa học, dựa trên nền thần học. Trong các triết gia đó, đức Phật được xem là người đi tiên phong trong lĩnh vực Tâm thức học.

Tâm thức thường được gọi tắt là tâm, là thuật ngữ chỉ cho các khía cạnh của trí tuệ và ý thức. Trong toàn bộ lời giảng dạy của đức Phật về tâm thức và dòng tâm thức hoặc khi đề cập đến hiện tượng tâm thức thì đức Phật luôn gọi và sử dụng gắn gọn là Tâm. Sự thể hiện tâm thức trong các kết hợp của tư duy, tri giác, cảm xúc, tưởng tượng (đức Phật gọi là Tưởng uẩn), ý thức… đức Phật gọi tâm thức là dòng ý thức, đó chính là Tâm thức học.

Vì vậy, đức Phật định nghĩa về Tâm như sau: “Do tâm sanh, nên các pháp mới sanh. Do các pháp sanh, cho nên tâm mới sanh. Tâm chẳng ở trong và cũng chẳng ở ngoài. Cái tâm hiểu biết phân biệt, không ở trong thân, không ở ngoài thân, không ở chính giữa, không ở chỗ nào cả; không dính mắc (vô trước) tất cả đó gọi là tâm.”

2. Kỹ thuật kiểm soát, làm chủ tâm lý

Nhiệm vụ nghiên cứu Tâm lý học của Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo là chỉ ra phương pháp cũng như kỹ thuật kiểm soát, làm chủ tâm, tức là kiểm soát, làm chủ tâm lý.

Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo nghiên cứu đến hoạt động-hành động, tinh thần (ý thức, ý chí) và tư tưởng của con người bằng thuật ngữ Tâm để giải thích các hiện tượng hoạt động của thể chất, của trạng thái tâm, và các yếu tố bên ngoài [trần cảnh] tác động lên hành vi và tâm thức của con người. Nó chính là tâm thức suy nghĩ phân biệt, chỉ cho toàn bộ sinh hoạt và hiện tượng của tâm lý; Tâm chứa đựng mọi sự trải nghiệm của đời sống mỗi con người và nguồn gốc tất cả các hiện tượng tinh thần, là thực tại tối thượng[1] của mọi hiện tượng nhị nguyên, gốc của tất cả mọi hiện tượng tâm thức. Khi Tâm được khảo sát như một thể riêng biệt, thì trên thể riêng biệt đó thế giới hiện tượng xuất hiện.

Theo khía cạnh của Hình thái học Phật giáo, Tâm được nhận thức từ danh từ hṛdaya của Phạn ngữ thì được gọi là: 

- Nhục đoàn tâm, tức là trái tim bằng thịt (vật chất);

- Tinh yếu tâm, tức là chỉ cho tinh hoa;

- Kiên thật tâm, tức là chỉ cho thể tính tuyệt đối. Nó chính là thể tính bất động, thường hằng, nằm ngoài mọi lý luận nhận thức nhằm chỉ cho cái ngược lại của thế giới hiện tượng thuộc thân [thân thể] thuộc tâm [tâm lý]. 

  Tâm, theo khía cạnh dạng thức của trường phái tâm lý thì được hiểu và được định nghĩa thêm ba loại Tâm, và lúc này Tâm được nhận thức từ thuật ngữ citta của Pali ngữ:

- Tập khởi tâm, tâm này chính là thức, tức là chỉ cho 8 loại tâm thức: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, Ý thức, Thức suy nghĩ phân biệt, Thức gốc (còn gọi là Thức căn bản của mọi hiện tượng);

- Tư lượng tâm, tức là Thức suy nghĩ phân biệt;

- Duyên lự tâm, tức là Ý thức.

Với luận đề: Tâm, và các hiện tượng hoạt động của thể chất [Thân], của trạng thái tâm, và của các yếu tố bên ngoài [trần cảnh] tác động lên hành vi và tâm thức, liên hệ đến hành động [Hành, S. saṃskāra, P. saṅkhāra: Hành được xem là một ý định, một chủ tâm có thể dẫn tới một tạo tác], tinh thần (ý thức, ý chí) và tư tưởng [Tưởng, S. saṃjñā, P. saññā: là nhận biết các tri giác như âm thanh, màu sắc, mùi vị...kể cả nhận biết ý thức đang hiện diện] của con người; là luận đề cơ bản để giải quyết vấn đề về nghiên cứu Tâm lý trong Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo.

Như vậy, với luận đề về Tâm, Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo đã đưa ra phương pháp để giải thích nhiệm vụ của Tâm lý học đặt ra. Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo giải thích những hành vi và những tiến trình tâm lý [tâm thần] của con người bằng luận đề về Tâm đã nêu ở trên. Cũng với luận về Tâm, Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo giải thích bản chất của các hiện tượng về tâm (tâm lý), nghiên cứu và giải thích mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý đó, chỉ ra vai trò-vị trí và chức năng của tâm (tâm lý) đối với các hoạt động của con người.

Từ đó, Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo đưa ra những vấn đề thuộc về lĩnh vực của tâm lý và trình bày phương pháp nghiên cứu về quy luật chung nhất của sự vận động trong thế giới đời sống con người dưới sự tác động qua lại tích cực của cá nhân với thực tại khách quan. Đó chính là kỹ thuật biện chứng tâm lý trong Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo. 

Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo nêu ra kỹ thuật biện chứng tâm lý để làm gì? Nêu ra kỹ thuật biện chứng tâm lý không nằm ngoài mục đích là nghiên cứu tâm lý học nhằm khắc phục các vấn đề về thực hành, hành vi, các vấn đề về phân tâm (Phân tâm học), khắc phục những vấn đề về nhận thức tâm lý và ứng dụng trong đời sống xã hội một cách tích cực, nhằm đưa việc nghiên cứu này đem ra áp dụng vào đời sống thực tiễn để kiểm soát hoạt động tiêu cực. Ví dụ, ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau trong xã hội, như:  Ứng dụng trong Quản lý kinh doanh, Y học lâm sàng (Tâm lý học lâm sàng), Tâm lý học sức khỏe, Tâm lý học học đường, Thiết kế sản phẩm phù hợp với tâm lý, Tâm lý học pháp lý, Tâm lý học xã hội, v.v...

Vì vậy, kỹ thuật biện chứng tâm lý của Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo góp phần đóng góp vào tiến trình nhận thức tri thức cho con người, tức là nhận thức về Tâm thức. Kỹ thuật biện chứng này còn giúp cho con người nhìn thấy, biết về tâm lý của mình, tức là chỉ cho con người chúng ta nhận thức được các khía cạnh của trí tuệ và ý thức trong dòng tâm thức. Từ đó, nó chỉ cho con người chúng ta ứng dụng các quá trình có ý thức của bộ não cũng như kiểm soát được hoạt động của tiềm thức con người nhằm tránh hoặc hạn chế những sai lầm hoặc tội lỗi một cách hữu hiệu.

3. Thay lời kết

Đức Phật nhấn mạnh đến yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân tâm không gì ngoài Ngũ uẩn. Ngoài Ngũ uẩn ra không có gì gọi là cái “ta” hiện hữa. Năm yếu tố Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức cùng có một đặc tính chung là luôn biến đổi, không chắc thật và không có tự ngã, chúng chỉ là giải hợp mà tạo thành.

Khổ xuất phát từ sự bấp bênh, không chắc thật của các uẩn đó; và con người được tạo thành từ năm uẩn đó thì không gì khác hơn là một sự giả hợp mà thành, không có một cái “ta” thật sự đứng đằng sau con người Vô ngã.

Điển hình, khi chúng ta khảo sát qua Sắc (rūpa), là thành phần chỉ cho thân và sáu giác quan. Sắc tạo nên các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) và đối tượng của chúng là sáu hiện tượng (sắc cảnh, âm thanh, thanh hương, mùi vị, xúc chạm, pháp), thì Thọ (vedanā) giữa vai trò là toàn bộ các cảm giác. Trong khi đó, Tưởng (saññā) đảm nhiệm vai trò nhận biết các tri giác như âm thanh, màu sắc, mùi vị…kể cả việc nhận biết ý thức đang diễn ra hoặc đang hiện hữu. Khi đó hành động mới có, Hành (saṅkhāra) lúc này đảm nhiệm vai trò cho những hoạt động tâm lý sau khi có tưởng; còn vai trò của Thức (viññāṇa) là bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan, Thức phụ thuộc vào sáu căn tiếp xúc với sáu trần cảnh để hình thành nên sáu thức. Vì vậy, nếu không có thức người ta sẽ không phân biệt được màu sắc hay âm thanh hay cảm giác, v.v… Khi đó, Tâm và dòng tâm thức chỉ cho toàn bộ sinh hoạt và hiện tượng của tâm trí.

Vì vậy, khi kiểm soát và làm chủ dòng tâm thức bằng kỹ thuật biện chứng tâm lý của luận đề về Tâm của Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo qua đó người ta giải thích được sự hiện hữu của con người cũng như sự hiện hữu hoặc thay đổi của dòng tâm thức như đức Phật đã định nghĩa.

Các tư tưởng có tính chất riêng tư tác động trong mối liên hệ với sự ngộ nhận của dòng tâm thức cộng với yếu tố Ngã chấp (ātmagrāha) làm cho mỗi người tưởng rằng có một con người đứng sau mọi hành động của mình. Tư tưởng đó lại tiếp tục gây ra các chủng tử của nghiệp, và nghiệp lại tiếp tục tạo tác. Cái vòng lẩn quẩn này chỉ được đối trị bằng quan điểm: Không hề có một thế giới độc lập ngoài Tâm. Theo đó, thế giới chỉ là sự phản ánh của Thức căn bản (Tạng thức: ālayavijñāna), con người chỉ thấy bóng dáng của chính tâm thức nó mà thôi.


[1] Thực tại tối thượng tức là Chân như (tathatā), Chân như chỉ thể tính bất động, thường hằng, nằm ngoài mọi lý luận nhận thức.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan