CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Tóm tắt nội dung các Chuyên đề Bồi dưỡng Trụ trì Tịnh xá Trung Tâm năm 2008

                                                  (Từ ngày 18 đến 21 tháng 4 năm Mậu Tý - 2009)

I. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TRUYỀN THỐNG AN CƯ

An cư kiết hạ là truyền thống cao quý được định hình từ thuở Phật sinh tiền. Hành giả dù thuộc Phật giáo Nam truyền, Bắc truyền hay Khất Sĩ cũng đều coi đó là cơ hội vàng để thúc liễm thân tâm, trau dồi trí tánh. Truyền thống Phật giáo Bắc truyền tổ chức an cư vào mùa Hạ từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 15 tháng 7. Truyền thống Nam truyền tổ chức an cư theo mùa mưa Ấn Độ, nhằm vào rằm tháng 6 đến rằm tháng 9 âm lịch. Đức Tổ sư Minh Đăng Quang - vị khai sáng Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam - đã chọn Tứ Phần Luật thuộc Đàm Vô Đức Bộ (Dhammaguptaka), một trong những bộ luật khá hoàn hảo về giới pháp, các pháp yết ma Bố-tát, an cư, tự tứ và các quy cách trị phạt làm nền tảng để Tăng Ni tu học, và do đó an cư kiết hạ của hệ phái Khất Sĩ cũng tổ chức an cư vào mùa Hạ như truyền thống Bắc truyền Phật giáo.

Ba năm nay, chư tôn đức hệ phái đã đưa ra một hướng mới bằng cách mở đầu an cư bằng một tuần lễ bồi dưỡng kiến thức trụ trì với các đề tài liên hệ trực tiếp đến công hạnh và tôn chỉ của Tổ sư và hệ phái Khất Sĩ, nhằm khẳng định những giá trị truyền thống mà Tổ sư đã đóng góp cho Phật giáo Việt Nam, đồng thời giúp hội chúng có cái nhìn đúng đắn về Phật giáo Bắc truyền, Nam truyền và Khất Sĩ trong lòng GHPGVN ngày nay để góp phần xương minh giáo pháp, dương cao tinh thần trách nhiệm của người đệ tử Phật, đặc biệt các vị trụ trì các miền Tịnh xá đang thừa hành sứ mạng “tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự” ở các trú xứ.


II. NỘI DUNG CHÍNH

1. TRÁCH NHIỆM VÀ SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI CON KHẤT SĨ (sáng 18 /4 âl)

Hòa thượng Giác Nhiên – Pháp chủ Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới, thuộc hàng đại đệ tử của Tổ sư Minh Đăng Quang, bậc trưởng thượng của hệ phái nhân chuyến về thăm Việt Nam và dự đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2008 tổ chức tại Hà Nội, Hòa thượng đã từ bi chứng minh cho chư Tăng nhập Hạ và có lời sách tấn, nhắc nhở ý thức trách nhiệm của vị trụ trì. Hòa thượng đã lân mẫn ban những lời pháp nhũ, khuyến tấn hàng kế thừa hậu học nên quý trọng giai đoạn ba tháng an cư kiết hạ, vì đó là giai đoạn để bản thân được học hỏi và thể nghiệm Pháp bảo, nhằm thanh lọc cặn bã của tâm thức và chuyển hóa thân tâm cho được thanh cao, tiến hóa hơn. Ngài tâm sự, khuyến tấn rằng ở những nước phát triển, đời sống vật chất gần như tỷ lệ nghịch với đời sống tâm linh, chính vì vậy thời gian tu tập cho tự thân của những vị Tỳ-khưu cũng rất hạn chế. Có nơi tổ chức an cư kiết hạ chỉ một tuần, 10 ngày hoặc nửa tháng. Trong khi đó, Việt Nam vẫn còn duy trì được truyền thống an cư kiết hạ quả thật là một hạnh phúc lớn cho hành giả, cho những vị có chí nguyện xuất trần thượng sĩ. Riêng những vị trụ trì, những vị có trọng trách đối với các Phật sự ở tịnh xá, dầu là an cư được một tuần hay 10 ngày cũng quý cả. Sự tham dự của những vị trong khóa bồi dưỡng trụ trì, một phần nào thể hiện tinh thần gắn bó với đoàn thể Tăng-già, thể hiện nếp sống lục hòa cộng trụ của chư Phật và Tổ sư đã dạy.

Bên cạnh đó, Ngài khuyến tấn các đệ tử Khất Sĩ nên trân quý và học hỏi lời dạy của Tổ đã để lại qua bộ Chơn Lý. Với thời gian ngắn ngủi chỉ mấy mươi năm kể từ khi Tổ sư vắng bóng, thế mà đường lối của Tổ sư cho đến nay điểm lại đã lắm phai mờ. Nhiều vị được gọi là “Khất Sĩ” nhưng hình thức lẫn nội dung tu tập không thể hiện được như tên gọi và bản chất của Khất Sĩ. Ngài nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc giữ gìn giới pháp. Một khi một giới pháp nào đó bị lủng, rách hoặc bị nhiễm ô, các giới pháp khác cũng theo đó mà có nguy cơ không được bảo hộ an toàn. “Giới là thọ mạng của Phật Pháp, giới còn thì Đạo Phật còn, giới mất thì Đạo Phật mất.” Cho nên, những ai là hành giả chân chính, là một vị Khất Sĩ đúng nghĩa nên trân trọng và gìn giữ giới pháp. Ngài nhắc nhở người con Khất Sĩ nên biết trân quý những gì mình đang có, đang thừa hưởng như tụng kinh thì nên tụng Kinh Tam Bảo, một nghi thức thuần Việt rất dễ hiểu và với âm điệu thi ca dễ học dễ nhớ, có tác dụng đi vào lòng người rất nhanh; pháp phục nên theo truyền thống vốn đã được Tổ sư cân nhắc, giới thiệu và đưa vào quy củ, v.v…

Cuối cùng, Ngài cầu chúc cho toàn thể đại chúng Tăng Ni thân an tâm lạc, Bồ-đề tâm kiên cố và pháp lạc miên trường.

2. ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ TRONG THỜI ĐẠI HỘI NHẬP (sáng 18/4 âl)

Đây là một trong những đề tài tương đối gắn kết với bối cảnh Phật giáo và xã hội Việt Nam đương đại. Với tư cách của một người có trách nhiệm với hệ phái trong lòng Giáo hội Phật giáo Việt Nam, HT. Giác Toàn đã khái quát hóa hệ phái Khất Sĩ thông qua cuộc đời, học đạo và sự nghiệp hành hóa của Tổ sư cho đến ngày vắng bóng. Chư Tôn đức đại đệ tử Tăng Ni của Tổ sư lãnh đạo 6 Giáo đoàn Tăng và các phân đoàn Ni được Hòa thượng nhắc lại như là một dấu ấn ghi nhớ công ơn của chư vị hữu công tiền hiền. Hòa thượng cũng không quên nhắc lại sự đóng góp của cố HT. Giác Nhu và HT. Giác Tường, Đệ nhất Ni Trưởng Huỳnh Liên và bản thân Hòa thượng trong quá trình đưa hệ phái Khất Sĩ, một trong 9 hệ phái lúc bấy giờ, trở thành thành viên của GHPGVN. Đó quả là một thành tựu lớn về mặt pháp nhân và pháp lý, để từ đó từng bước Tăng Ni hệ phái ổn định và phát triển.

Mục tiêu, chí nguyện của Tổ sư lập đạo được Hòa thượng trình bày và khẳng định một lần nữa qua danh hiệu và phương châm của hệ phái: “Nối Truyền Thích Ca Chánh Pháp - Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam”. Làm thế nào để nối truyền Thích Ca Chánh Pháp, làm thế nào để một vị Khất Sĩ (Bhiksu) thể hiện được tinh thần giải thoát, giác ngộ của Phật giáo? Đó là những câu hỏi mà người con Khất Sĩ thường phải tự trăn trở, ưu tư để từ đó nhận thấy trách nhiệm của mình. Hòa thượng cũng nhấn mạnh đến nền tảng tu tập của một người thọ học giáo pháp Khất Sĩ, phải thấy được những điểm đại đồng của giáo pháp Khất Sĩ với truyền thống Phật giáo Bắc truyền và Nam truyền, làm thế nào để GIỚI được thanh tịnh, ĐỊNH được thiết lập và TUỆ được rạng ngời; nhờ đó các vị có khả năng đoạn tận khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn.

Những nét đẹp của truyền thống Khất Sĩ, đặc biệt vào thuở lập đạo, thì rất nhiều, nhưng HT. trụ trì Tịnh Xá Trung Tâm cô đọng những nét đẹp ấy bằng 4 điểm chính, đó là (1) Hạnh du phương trì bình khất thực, (2) Thực thời ngọ chay (3) Không màng đến của cải vật chất, và (4) Tinh thần lục hòa cộng trụ. Trong bối cảnh ngày nay các nét đẹp lớn ấy dần dần gần như bị phai nhạt bởi thời gian và môi trường xã hội. Do vậy, Hòa thượng nhấn mạnh trách nhiệm của vị trụ trì là tạo mọi điều kiện thuận lợi, sắp xếp chương trình tu học hàng ngày tại mỗi trú xứ để Tăng Ni và Phật tử hành trì tinh tấn, nâng cao đạo đức phẩm hạnh của người con Phật. Đồng thời, Hoà thượng đã khuyến hoá toàn thể hội chúng nên nhận diện và cố gắng duy trì những nét đẹp của giáo pháp trong khả năng có thể của mình tại các trú xứ tịnh xá. Lời dạy của Tổ ngắn gọn, nhưng vô cùng thâm thuý, có thể được xem như là phương châm tu học của hàng đệ tử được Hòa thượng nhắc lại và rất ứng hợp trong bối cảnh an cư kiết hạ:

                           “Nên tập sống chung tu học

                           Cái sống là phải sống chung

                           Cái biết là phải học chung

                           Cái linh là phải tu chung.” (Chơn Lý, tr. 833)

Điểm then chốt trong bài giảng của Hòa thượng như tiêu đề đã đặt ra, là làm thế nào Đạo Phật Khất Sĩ có thể tồn tại và tiếp tục phát huy những giá trị vốn có của mình. Các điểm căn bản đó như là những tiêu chí mà người con Khất Sĩ cần ghi nhớ, đó là (1) Giữ gìn bản sắc tốt đẹp của hệ phái; (2) Luôn hài hoà trong tổ chức Giáo hội; (3) Tôn trọng hiến chương, nội quy các ban ngành, tự viện; (4) Tôn trọng pháp luật và hài hòa trong các sinh hoạt cộng đồng xã hội, (5) Nhận thức rõ vị trí Phật giáo trong lòng xã hội và những bước phát triển của thế giới văn minh.

Để kết thúc đề tài này, Hòa thượng khẳng định lại giáo lý tương quan tương duyên như là định đề để lý giải tại sao Phật giáo chúng ta phải hội nhập trong lòng xã hội để đóng góp hữu ích cho cuộc đời. Qua đó, cũng khẳng định giá trị của một thân người hiền thiện, thanh tịnh tam nghiệp và giá trị của pháp bảo trong việc bảo hộ và thăng hoa cuộc sống nhân sinh.

3. BỐN ĐIỀU ĐẶC SẮC CỦA HỆ PHÁI KHẤT SĨ (chiều 18/4 âl)

HT. Giác Ngộ, viện chủ Tịnh xá Ngọc Thiền, đồng thời là giáo phẩm tôn chứng của hệ phái, đã trình bày bốn nét lớn đặc sắc của hệ phái mà Tổ sư và một số các vị tiền bối trong quá khứ và hiện nay đã thực hiện được.

(1) Không chen lộn với đời về chỗ ở,

(2) Không bận rộn về ăn mặc,

(3) Không tiền bạc của cải vật chất,

(4) Bình đẳng vô trị.

Ba điểm đầu thuộc ba chi của Tứ y pháp tức là ăn, mặc và ở trong bốn pháp nương tựa. Một khi thực hành được tứ y pháp trung đạo thì viên mãn ba phần đầu. Điểm then chốt và tương đối mới lạ là điểm thứ tư. Các truyền thống tôn giáo, đặc biệt là truyền thống tôn giáo hữu thần, đều có một thể chế chính trị hoặc thể chế Tăng lữ ràng buộc trong khuôn khổ tổ chức tu hành. Riêng Phật giáo nói chung và Khất Sĩ nói riêng không có hệ thống này mà chỉ lấy Pháp và Luật làm Thầy. Điều này đã được chư Tôn đức triển khai và bổ sung thông qua những lời nhắn nhủ cuối cùng của Đức Phật cho tôn giả Ananda trước khi Ngài nhập Niết Bàn. Vấn đề này được tôn giả Ananda lặp lại một lần nữa khi có một vị hỏi Ngài. Đức Phật luôn căn dặn hãy lấy giới luật làm thầy. Ngài Ca-diếp sau này được đại Tăng suy cử là hàng lãnh đạo Tăng đoàn, như một người anh cả, bậc Trưởng thượng trong giáo pháp. Trong quá trình Ngài Ca-diếp giải quyết các Tăng sự đều dựa vào giới luật, và chính giới luật lại quản lý và trị phạt các vị ấy, và đại chúng Tăng chỉ là thành viên yết ma biểu quyết. Không hề có dấu hiệu độc tôn hay quyền thế trong quản lý và lãnh đạo Tăng đoàn. Có thể nói cách quản lý của nhà Phật là cách quản lý dân chủ nhất trong các thể chế Tăng lữ tôn giáo và chính trị thế giới. Đạo Phật Khất Sĩ ở Việt Nam đã vận dụng được tinh thần dân chủ này, mặc dầu vẫn có sự lãnh đạo thống nhất từ trên xuống dưới trong lòng Giáo hội. Hy vọng với tinh thần tôn trọng Pháp và Luật theo lời Phật dạy, Tăng đoàn Khất Sĩ sẽ sống đúng theo chánh pháp và luôn tăng trưởng trong niềm tin của chánh pháp.

4. TƯ TƯỞNG NỐI TRUYỀN THÍCH CA CHÁNH PHÁP - ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ VIỆT NAM CỦA TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG

Đề tài này được HT. Giác Giới - Trưởng ban Thường trực Hệ Phái trình bày. Đây là một trong vấn đề được Hòa thượng ưu tư, trăn trở trong nhiều năm liền. Hòa thượng đã trưng dẫn nhiều đoạn trích dẫn trong bộ Chơn Lý để khẳng định tư tưởng Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp của Tổ sư, đồng thời qua đó nhắc nhở toàn thể Tăng Ni nỗ lực tu tập đúng theo đường lối của Tổ sư.

Điểm cốt lõi của Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp theo đường lối của Tổ sư là hành trì Tứ Y Pháp Trung Đạo, tức là thực hiện đời sống đơn giản thanh bần thông qua bốn phép nương tựa do tín thí cúng dâng. Sống với bốn phép nương tựa này là bắt đầu sống với giới. Không hề có sự mong cầu, nghĩa là sự vắng mặt của tham. Sống bằng lòng với những gì mình có là sống với tâm xả. Nói cách khác, đó là nếp sống không bị chi phối bởi ăn mặc ở bịnh mà tất cả loài hữu tình đều vướng mắc. Đây là cách tốt nhất để gốc rễ ái luyến và chấp thủ không có cơ hội đâm chồi nẩy lộc. Đó là nếp sống viễn ly thế tục để hoàn toàn dồn tâm trí vào việc nhập định, sát trừ phiền não, đoạn tận dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Không những thế, với đường lối của Tổ sư, một nhà sư Khất Sĩ lý tưởng không chỉ ôm bát khất thực hóa duyên mà phải biết cách nhập định để phát tuệ sanh chơn, đó mới là cốt tủy của Đạo Phật.

Nhưng vấn đề được đặt ra là làm thế nào để thực hiện được đời sống lý tưởng ba y một bát, tứ hải làm nhà, như Tổ xưa kia, trong bối cảnh hiện nay? Một thời đại mà thông tin bùng nổ, khoa học kỹ thuật lên tới đỉnh điểm, tiền bạc, xe cộ, di động, v.v… tràn ngập, làm thế nào không đánh mất bản sắc của người con Khất Sĩ như xưa mà vẫn hòa nhập vào dòng đời để độ sanh? Các Tăng Ni ở trường hạ có thể thấy được tầm quan trọng của việc “một bát cơm ngàn nhà” nhưng làm thế nào để thực hiện được? Các câu trả lời đó đây vẫn từ kinh điển và trích dẫn, và dường như vẫn là những câu trả lời mang tính gợi ý để từ đó mỗi Tăng Ni tự đánh thức chính mình hơn là phương pháp cụ thể.

5. NHỮNG NÉT MỚI CỦA GIÁO HỘI TRONG NHIỆM KỲ VI (sáng 19/4 âl)

HT. Thích Trí Quảng - Phó chủ tịch HĐTSTƯ GHPGVN đã đến viếng thăm Đạo tràng và có lời chúc lành đến hội chúng an cư. Thông qua Đại lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc 2008 được nhà nước Việt Nam đăng cai, Ngài liên tưởng đến hình ảnh triết lý thâm diệu trong Kinh Pháp Hoa trong phẩm Hiện Bảo Tháp. Đó là hình ảnh khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết Pháp Hoa Kinh thì tháp Đa Bảo từ trong lòng đất hiện ra và vọt lên trên không trung, trong đó có Đức Phật Đa Bảo đồng khen ngợi công đức thuyết Pháp Hoa Kinh. Trong trường hợp Phật đản năm nay, chư Tôn thiền đức Tăng Ni Việt Nam tổ chức lễ kỷ niệm Đức Phật đản sinh được sự đồng tình ủng hộ của chư tôn thiền đức khắp năm châu bốn biển. Các vị dầu ở đâu cũng đồng câu hội về để chia sẻ đạo lý và kinh nghiệm tu tập của mình. Hòa thượng đã khẳng định các Phật sự được thành tựu là nhờ sự mật thùy gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát cộng với sự nỗ lực của tự thân, chứ không phải chỉ do sự mong muốn tác thành của một cá nhân nào. Một khi có bóng dáng của cá nhân là có sự hiện diện của chấp ngã và chấp pháp. Ngã và pháp không đoạn lìa thì chắc chắn hành giả không thể nào chứng đắc Thánh quả. Điều này đã được Đức Phật dạy rất nhiều trong các kinh mà cũng là chỗ thâm liễu của Hòa thượng. Ngay cả quan điểm tôi thuộc hệ phái này hay hệ phái khác cũng cần loại bỏ, vì đó cũng là một dạng biểu hiện dính mắc của ngã và pháp.

Trong bối cảnh xã hội hiện nay, Ngài nói, Đạo Phật không thể nào chết khô trong những giáo điều hay mô thức của một tôn giáo, mà phải biết linh động, uyển chuyển để phù hợp với văn hóa và tâm tánh đương cơ của mỗi xứ sở. Trong phần nói chuyện này, Hoà thượng cũng đề cập và khen ngợi sự khéo léo linh động dung hợp của Tổ sư cả y bát của Nam truyền và dùng chay lạt như Bắc truyền. Đó là điểm độc đáo của Tổ sư đã dựng lập mà hàng hậu học cần trân trọng.

6. ĐẠO PHẬT VÀ TÔNG GIÁO (Chiều 19/4 âl)

Đề tài này được HT. Giác Thường – giáo phẩm hệ phái trình bày. Hòa thượng nhấn mạnh đến đạo Phật như là một triết lý tư duy, thể nghiệm và hành trì hơn là một hệ thống tín ngưỡng mà nhiều tôn giáo khác trước thời Đức Phật, cùng thời Đức Phật và sau thời Đức Phật đều đặt nặng. Ngài trích dẫn một trong sáu đặc tính của Giáo Pháp là Giáo pháp của Đức Phật là đến để mà thấy, nghĩa là đến để hành trì và chứng nghiệm, chứ không phải đến để mà tin. Các hình thức nặng về tín ngưỡng là phần phụ thuộc và đồng thời cũng là tính tất yếu của tôn giáo, nhưng tuyệt đối không phải là bản chất của Đạo Phật. Đạo Phật với một hệ thống triết lý thâm áo để những hàng thức giả suy gẫm, một hệ thống tu hành rất khoa học để hành giả thể nghiệm và những chơn lý siêu nghiệm để những ai có trí cảm nhận. Thông qua đó, Hòa thượng cũng nhấn mạnh đến quan điểm tự độ và cách thờ phượng như trong bộ Chơn Lý mà Tổ sư đã dạy. Khác với các truyền thống tôn giáo khác cũng như một vài tông phái trong Đạo Phật thời bấy giờ, Tổ sư đã đặt nặng sự tự tu, tự độ và đem khả năng đó giáo hóa quần sanh, khiến cho người tự chuyển hóa, vượt thoát những chướng nạn của chính mình và tự thăng hoa trên đường tiến hóa.

Sau trình bày của HT. Giác Thường là sự đóng góp của Hòa thượng chủ trì Giác Giới về những đoạn trích dẫn trong Chơn Lý, nhằm khẳng định những đường hướng của Tổ sư đưa ra phù hợp với chân lý, với giáo pháp của Đức Phật.

Điều thú vị khác là có người đặt câu hỏi trong trường hợp hệ phái Khất Sĩ ngày nay nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung, nhiều tự viện, tịnh xá không giữ được bản sắc đặc trưng của Đạo Phật mà lại có quá nhiều hình thức gần với mê tín dị đoan, tín ngưỡng dân gian chi phối, và thậm chí cả pháp môn tu nhuốm màu cầu nguyện, ỷ lại đã và đang xâm nhập cửa thiền, vậy điều ấy có phù hợp với đường lối của Phật và Tổ không? Đứng trước vấn nạn này, chúng ta phải giải quyết như thế nào? Lời giải đáp của Hòa thượng chủ trì có tính thuyết phục cao, là tùy hoàn cảnh và nhân duyên của chúng sanh mà hoá độ thông qua dẫn chứng kinh Kutadanta (Cứu-la-đàn-đầu) trong Trường Bộ Kinh. Nếu không khéo chúng ta sẽ rơi vào cực đoan và bỏ lỡ các cơ hội giáo hóa chúng sanh. Trong quá trình tiến hóa, khả năng nhận thức và căn tánh sai biệt, có người do Tín căn mà vào đạo, người do Tuệ căn mà vào đạo, vậy một bậc Như Lai sứ giả nên vận dụng giáo pháp để tùy bệnh cho thuốc, tùy căn cơ trình độ mà giáo hóa.

7. ĐỨC TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG VÀ TINH THẦN BỒ TÁT ĐẠO (Chiều 19/4 âl)

Đây là một bài giảng mang tính học thuật và tâm huyết của một vị giảng sư trong hệ phái. TT. Giác Pháp đã đưa ra một định nghĩa căn bản về Bồ-tát, về sự phân loại và công hạnh Bồ-tát theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa.

Điểm then chốt trong bài này là quan niệm về Bồ-tát của Tổ sư có tương ứng với hai truyền thống Phật giáo hay không ? Thượng tọa giảng sư đã trích dẫn rất nhiều đoạn trong bộ Chơn Lý như bài “Khất Sĩ”, “Trên Mặt Nước”, “Hòa Bình” để minh định quan điểm Bồ-tát đạo, hay nói cách khác là quan điểm về tinh thần nhập thế hóa độ của Đức Tổ sư. Cách sử dụng phương tiện như xe con, máy phóng thanh, máy ghi âm, thành lập nhà in Pháp Ấn v.v…, đồng thời sự hiện diện và Tăng số của chư Tăng Ni thuộc GHTGKSVN trong vòng mấy mươi năm mà trải khắp Nam Trung đất Việt đã chứng minh hùng hồn tinh thần nhập thế, tinh thần Bồ-tát đạo của Tổ sư rất rõ.

Nhưng vấn đề được đặt ra là làm thế nào để thế hệ Tăng Ni đương đại có thể giữ được bản sắc của một vị Khất Sĩ thanh bần trong sáng mà vẫn có khả năng nhập thế độ sinh được nhiều chư tôn đức Tăng Ni đặt ra, nhất là sự ưu thời mẫn thế của TT. Giác Đăng thuộc giáo đoàn I. Rõ ràng đứng trước vấn nạn của chủ nghĩa hưởng thụ vật chất và tiêu thụ của thế giới văn minh phương Tây đang lan tràn sang phương Đông, làm thế nào một vị Tăng Ni Khất Sĩ vẫn có thể ung dung vào đời để hóa độ mà bất nhiễm, không bị lui sụt đạo tâm? Các hình thức như từ thiện, cứu tế nạn nhân lũ lụt, tuệ tĩnh đường, v.v… có phải là tinh thần nhập thế đúng đắn và đúng trách vụ của một vị Khất Sĩ hay không ? Dường như những vấn đề này vẫn còn là đề tài mà chư tôn đức Tăng Ni, hàng giáo phẩm hệ phái cần phải thảo luận kỹ hơn nữa và có phương án cụ thể để định hướng. Đối tượng nào cần cho hành Bồ-tát đạo, đối tượng nào cần giữ gìn đạo hạnh mà vẫn thể hiện được tinh thần của Bồ-tát đạo.

8. ĐỨC TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG VÀ CÁC MỐI LIÊN HỆ VỚI PHẬT GIÁO NAM TRUYỀN VÀ PHẬT GIÁO BẮC TRUYỀN (sáng 20/ 4 âl)

TT. Giác Nhân phụ trách đề tài này và đã trình bày những đóng góp của Tổ sư qua sự dung hợp những điểm độc đáo của hai truyền thống lớn, đó là đắp y mang bát như Phật Tăng xưa, hành hạnh đầu đà như các nhà Sư theo truyền thống Thiền lâm ở các nước lân cận Việt Nam như Thái Lan và Campuchia. Riêng phần hành trì giới luật lại theo truyền thống Bắc truyền, chỉ được phép dùng chay lạt, không dùng tam tịnh nhục như ở các nước theo Nam truyền Phật giáo. Không những thế, Tổ sư tiếp nhận tư tưởng triết học Phật giáo Đại thừa thông qua các Kinh như Kinh Pháp Hoa, Địa Tạng, v.v…

Chính sự dung hợp kỳ diệu này đã tạo nên một bản sắc văn hóa tâm linh Phật giáo Khất Sĩ độc đáo mà chỉ diễn ra ở Việt Nam. Nhờ đó mà người con Khất Sĩ ngày nay mới có được thái độ học hỏi mọi đối tượng như từ cỏ cây, thú, người, trời, Phật hay các hội đoàn, tổ chức như Tổ sư đã dạy, không ngần ngại và cũng không bị giới hạn trong truyền thống pháp phái nào.

III. BẾ MẠC

Chiều 25/5/08 (20/4 âl) là thời gian dành cho các câu hỏi của các chủ đề còn lại mà chư tôn đức Tăng Ni chưa có dịp thưa hỏi và cũng là buổi đúc kết lại các vấn đề đã thảo luận. Ngoài ra, chư tôn đức giáo phẩm hệ phái có những lời đạo từ, khuyến tấn chung. HT. Giác Nhường, với tư cách của một bậc trưởng thượng tĩnh lặng chuyên tu, phát biểu rất vắn tắt, liên hệ đến việc nuôi lớn các hạnh lành. Hòa thượng nói, hãy làm những gì mình thấy an lạc, vì những điều khiến cho mình thấy an lạc, người khác cũng sẽ an lạc. Đó cũng là một trong những cách nuôi lớn các tâm vô lượng và cũng là công hạnh của Bồ-tát.

HT. Giác Hà, đại diện Giáo đoàn V nhắc nhở chư Tăng Ni trong hệ phái về 3 điều có ảnh hưởng đến sinh mệnh của hệ phái: (1) Mô hình Tịnh xá không nên thay đổi để giữ nét kiến trúc độc đáo riêng của hệ phái; (2) Y phục nên giữ theo truyền thống, không nên tự tiện đổi thay như hiện tượng ngày nay; (3) Đời sống tại trú xứ nên gìn giữ nề nếp thời khóa công phu của hệ phái.

Tiếp theo là lời phát biểu của HT. Giác Dũng trưởng Giáo đoàn III. Ngài tán trợ tinh thần kiến hòa đồng giải thông qua chương trình hội thảo này; Ngài yêu cầu những năm sau cũng nên tiếp nối chương trình này với chủ đề mới để chư Tăng Ni có cơ hội bày tỏ những ưu tư, khắc khoải và cũng có thể đóng góp những ý kiến quý báu, cùng nhau kiến tạo một ngôi nhà Khất Sĩ kiên cố và tốt đẹp hơn. Vấn đề không nên dừng lại khi chỉ bàn luận suông trên lý luận và học thuyết mà phải bàn thảo những vấn đề thực tế liên hệ đến những khó khăn, trách vụ và bổn phận của một trụ trì, để từ đó chúng ta cùng thông cảm và chia sẻ những gánh nặng cho nhau, hỗ trợ cho nhau, cùng thăng tiến trên đường đạo.

Ni trưởng Tràng Liên và Ni trưởng Minh Liên đã thay mặt chư Tôn đức Ni khuyến tấn đời sống phạm hạnh của chư Ni, chủ yếu liên hệ đến pháp phục khi ở nhà cũng như đi đường. Một điều hết sức tế nhị khác đó là sự tìm cầu bậc thầy y chỉ. Một Ni cô Khất Sĩ khi còn là học Ni không nên tự ý đi tìm thầy y chỉ riêng mà không xin phép thầy Bổn Sư.

Đức Phật dạy, ngày nào Tăng chúng còn cung kính, đảnh lễ vâng theo lời chỉ dạy của những bậc thượng túc Tỳ-kheo, các bậc Trưởng lão trong giáo pháp, những bậc thầy có nhiều kinh nghiệm trong tu tập thì ngày đó giáo pháp sẽ được hưng thịnh. Hy vọng rằng, những người con Khất Sĩ không những thực hiện được pháp bất thoái trên mà còn thực hiện trọn vẹn 6 pháp bất thoái khác, sẽ khiến cho giáo pháp được hưng thịnh, cửu trụ thế gian.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan