CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Tiểu sử Hòa thượng Giác Trang

 TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG GIÁC TRANG

Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN

(1933 – 2008)

            I. THÂN THẾ

            Sư thế danh Huỳnh Hữu Thọ, sinh năm Quý Dậu (1933) tại xã Nhựt Minh, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Thân phụ: cụ ông Huỳnh Văn Mới, pháp danh Thiện Tâm; thân mẫu: cụ bà Nguyễn Thị Ngôn, pháp danh Hiền Ngọc. Sư là người con thứ sáu trong gia đình tám anh em.

            Từ những năm đầu thập niên năm mươi, Tổ Minh Đăng Quang hướng dẫn đoàn du tăng về hành đạo, giáo hóa tại thị xã Tân An và huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, ông bà thân sinh và anh chị em Sư đều có duyên lành được nghe Tổ thuyết pháp, ban truyền Tam quy Ngũ giới. Sư được Tổ ban cho pháp danh là Thiện Hữu. Nương theo duyên lành này, cả gia đình đều tu hạnh cư sĩ tại gia, hộ trì Tam bảo.

            II. XUẤT GIA THEO THẦY HỌC ĐẠO

            Khi còn là cư sĩ, Sư thường hay tới lui đạo tràng Tịnh xá Ngọc Thành, thị xã Tân An để tham vấn đạo lý. Đến năm 1955, Trưởng lão Giác Tánh dẫn Đoàn du tăng hành đạo dừng chân lại Tịnh xá Ngọc Thành, khai đàn thuyết pháp. Cảm mến đức độ Trưởng lão, Sư xin được xuất gia giải thoát. Vào ngày mùng 10 tháng 9 năm 1955, Trưởng lão hoan hỷ thu nhận sư làm môn đệ và ban cho pháp danh Giác Trang. Từ đó Sư theo hầu Trưởng lão bổn sư trên đường vân du hóa đạo khắp các tỉnh miền Tây. Ngày Rằm tháng Chạp năm 1955, Sư được thọ Y bát giới Sa di tại Tịnh xá Ngọc Quang, thị xã Sa Đéc. Đến năm 1956, Đệ Nhị Tổ Giác Chánh, Trưởng lão Tăng chủ Giác Tánh và Trưởng lão Tri sự Giác Như dẫn đoàn du tăng ra miền Trung giáo hóa. Sư lại có duyên lành theo hầu thầy đi vân du hóa duyên hành đạo. Năm 1958, Đoàn du tăng trở lại miền Tây và dừng chân tại Tịnh xá Liên Trung, huyện Thốt Nốt, tỉnh Hậu Giang, nay là Tịnh xá Ngọc Liên, TP. Cần Thơ. Tại đây, Sư được chư tôn đức trong Giáo đoàn chứng minh truyền thọ Y bát Cụ túc giới Tỳ kheo.

            III. PHỤNG SỰ TAM BẢO, TỔ THẦY

            Sau 3 năm thọ Cụ túc giới, Sư dần dần trưởng thành trong giáo pháp. Đến năm 1960, Trưởng Lão Giác Tánh dẫn Giáo đoàn ra miền Trung hành đạo và thành lập Giáo đoàn II, xây dựng đạo tràng Tịnh xá, mở mang mối đạo, Sư được bổn sư ủy cử ở lại trợ lý Trưởng lão Tri sự Giác Như, quán xuyến công việc chung của Giáo đoàn, chịu trách nhiệm việc phân bổ trụ trì về các tịnh xá thuộc Giáo đoàn I. Đến năm 1965, Sư tự thân đảm nhận trụ trì mỗi khóa 3 tháng, giáo hóa nhiều nơi. Cụ thể là Tịnh xá Ngọc Viên, Vĩnh Long; Tịnh xá Ngọc Quang, Sa Đéc; Tịnh xá Ngọc Thạnh, Tây Ninh; Tịnh xá Ngọc Thành, Long An; Tịnh xá Ngọc Tường, Mỹ Tho; Tịnh xá Ngọc Vân, Trà Vinh; Tịnh xá Ngọc Trung, Thốt Nốt; Tịnh xá Ngọc Giang, Long Xuyên; Tịnh xá Ngọc Minh, Cần Thơ; Tịnh xá Ngọc Liên, Bạc Liêu. Từ năm 1980 Sư về Trụ trì Tịnh xá Ngọc Chánh, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh cho đến ngày viên tịch.

            IV. TU TẬP TỰ THÂN VÀ HÀNH HOẠT LỢI THA

            Dù đi đâu, ở đâu, trung du hay đồng bằng Nam Bộ, miền Đông hay miền Tây, dù đang thực hiện công việc lớn hay nhỏ, bận rộn hay thong thả, Sư đều tự mình hành trì, tự mình thu thúc trong phạm hạnh, không xao lãng, không bỏ phí thời gian. Những người có duyên lành diện kiến đều cảm nhận nơi Sư tâm hồn của một vị chân tu thanh tịnh với thân hành, khẩu hành an trú trong giới luật. Với trọng trách của vị trụ trì, hàng ngày Sư luôn để tâm chăm sóc, trang nghiêm đạo tràng, khuyến tấn chư Tăng cộng trụ cùng hành trì chương trình tu học trú dạ lục thời của người xuất gia. Đồng thời, Sư thường xuyên hướng dẫn giúp cho bá tánh cư sĩ tại gia biết tu tiến tự thân và hộ trì Tam bảo.

            Hòa mình với Phật giáo và xã hội, Sư luôn thể hiện tinh thần phụng sự, lợi đạo ích đời của một thầy Tỷ kheo sống theo Chánh pháp. Sư lần lượt đảm nhiệm các vị trí thành viên Ban Kiểm Tăng Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh; Cố vấn chứng minh Ban Đại diện Phật giáo Quận Bình Thạnh; thành viên Ban Từ thiện xã hội Trung ương Giáo hội và Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh; Cố vấn chứng minh Giáo đoàn I và Hệ phái Khất Sĩ. Trong 4 năm liền, từ năm Giáp Thân (2004) đến năm Đinh Hợi (2007), Sư là Thiền chủ trường hạ tập trung của Hệ phái tại Tịnh xá Trung Tâm, Bình Thạnh.

            Trong mấy mươi năm sức khỏe còn tương đối tốt, Sư thường trực tiếp vận động ủng hộ và tham gia các chuyến thăm viếng, tặng quà cứu trợ đồng bào bị thiên tai bão lụt miền Tây và miền Trung bằng tấm lòng xả kỷ lợi tha. Đối với các hoạt động của Giáo hội, Ngài rất quan tâm và âm thầm ủng hộ định kỳ các khóa đào tạo, các Trường Phật học, thuộc ngành Giáo dục Tăng Ni; các khóa đào tạo, bồi dưỡng Giảng sư của ngành Hoằng pháp Trung ương và thành phố; thường xuyên ủng hộ tờ báo Giác Ngộ thuộc Thành hội Phật giáo. Sư được Giáo hội tấn phong giáo phẩm Thượng tọa tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc kỳ III năm 1992; giáo phẩm Hòa thượng tại Đại hội kỳ V năm 2002. Tại Đại hội kỳ V (2002) và kỳ VI (2007), Sư được suy tôn vào Hội đồng Chứng minh GHPGVN.

            V. CỐT CÁCH TRONG NHỮNG NĂM THÁNG CUỐI ĐỜI

            Từ đầu năm 2003, sức khỏe của Sư theo duyên tăng giảm. Sư thường về tịnh dưỡng tại Tịnh xá Ngọc Tường, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang. Đến tháng 6 năm 2005, bác sĩ ở Bệnh viện Ung Bướu cho biết Sư ung thư gan giai đoạn cuối, cần nên nhập viện ngay để chữa trị. Sư cho chư Tăng và Phật tử cận sự biết bệnh tình nhưng lại quyết định không nhập viện và bày tỏ ý nguyện về lại Tổ đình Tịnh xá Ngọc Viên, Vĩnh Long tịnh dưỡng. Công việc trụ trì chăm sóc Tịnh xá Ngọc Chánh, Sư ủy nhiệm cho Thượng tọa Thích Giác Tuân. Mấy tháng sau, Sư cho biết trong mình vẫn khỏe. Lúc bấy giờ lại có duyên sự ở Như Lai Thiền Tự tại San Diego, Hoa Kỳ và Thiền viện Minh Quang ở Sydney, châu Úc tổ chức lễ khánh thành vào tháng 9 và tháng 11 năm 2005; cả 2 nơi đều cung thỉnh Sư cùng chư tôn đức chấn tích quang lâm chứng minh. Sư hoan hỷ hứa khả và tỏ ý muốn du hành xa một chuyến, Sư nói: ‘Bịnh thì đã bịnh rồi, đi xa một chuyến vừa thể hiện đạo tình sơn môn pháp lữ, vừa có dịp vân du với huynh đệ để nhớ lại thời giáo đoàn còn đi du phương hành đạo, thời còn Thầy Tổ ngày xưa, chuyện sống chết hãy cứ tùy duyên’. Chuyến đi xa kéo dài nhiều tuần, mọi người cứ lo lắng, ái ngại cho Sư. Điều lạ là suốt cuộc hành trình, sức khỏe Sư vẫn bình thường. Chuyến đi với sự chứng dự của Sư đã được thực hiện mười phần viên mãn, để lại những ấn tượng khó quên về hành trạng và phong thái của một vị đạo sư mẫu mực, cao khiết mà vẫn thân tình. Phật sự hoàn thành, tình nghĩa sơn môn càng thêm đậm nét.

            Sau mùa An cư năm Bính Tuất (2006), sức khỏe Sư không được ổn định, phải trở vào Bệnh viện Chợ Rẫy để tiếp tục điều trị. Y bác sĩ nơi đây tận tình chăm sóc. Sư lại vượt qua những lần trở bệnh thập phần nguy hiểm. Sư bảo: ‘Sống chết là chuyện thường’ và lại có ý nguyện đủ sức khỏe và thời gian để thực hiện một duyên sự ngõ hầu góp phần trong việc xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh; đồng thời sẽ đi dự Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VI, nhiệm kỳ 2007 – 2012 được tổ chức tại thủ đô Hà Nội. Nay, tâm nguyện dự Đại hội đã được thực hiện tròn xong. Việc góp phần xây dựng Học viện, Sư đã để lại cho hàng môn đệ tiếp tục theo con đường phụng đạo ích đời, nhất là cho sự nghiệp giáo dục của Phật giáo Việt Nam.

            VI. VIÊN TỊCH

            Ngày 22 tháng 11 năm Đinh Hợi, bịnh duyên tái phát nên Sư phải nhập viện, đến ngày 12 tháng Chạp, Sư quyết định xuất viện về lại Tịnh xá Ngọc Tường tịnh dưỡng. Đến 02 giờ 25 phút ngày Rằm tháng Chạp năm Đinh Hợi (nhằm ngày 22/01/2008), Sư xả báo an tường theo về với Phật. Trụ thế 75 năm, Hạ lạp 50 năm. Duyên hóa độ đã mãn, Sư trở về cảnh an lành của chư Phật nhưng công đức và đạo hạnh của Sư vẫn còn sống mãi trong tâm tư, ký ức của hàng pháp hữu, Tăng Ni, Phật tử và môn đồ pháp quyến.

 

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan