CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Có một vị sư như thế

 Đó là vị sư hầu như không được biết đến. Ngay cả chư Tăng nội tự khi nhắc đến Sư cũng chỉ vài câu rồi thôi. Đại khái như “... sư ốm yếu, bệnh tật, đã ở đây dưỡng bệnh mấy chục năm nay”. Ấn tượng đậm nét nhất trong lòng người được nghe lời giới thiệu có lẽ là ‘mấy chục năm dưỡng bệnh (1968 - 2008)’. Ngoài ấn tượng đó, Sư là vị sư mờ nhạt và chắc chắn không phải là vị sư có bóng dáng trong sách giáo khoa môn lịch sử những hệ phái Phật giáo Việt Nam.


Hòa Thượng Giác Châu

Hôm lễ tang, người em gái và nhóm gia quyến khoảng 6 người đến ngồi kể lại chuyện ngày xưa. Câu chuyện càng khẳng định Sư là người mờ nhạt. Sư xuất thân từ giới bình dân, cụ thân sinh qua đời năm sư 11 tuổi, gia đình còn lại mẹ già và đứa em gái. Đứa em gái lại đi ở nhờ nơi một người cô, từ những năm 1930, Sư một mình buôn bán, làm thuê, kiếm tiền phụng dưỡng, chăm sóc mẹ già. Đến khi mẹ qua đời, ngay hôm sau, Sư xuất gia theo chân đoàn du tăng rày đây mai đó, lấy bốn bể làm nhà, lấy nhân sinh làm quyến thuộc. Người em sụt sùi kể lại hôm giỗ mẹ Sư có về thăm một lần duy nhất và ở lại nhà khoảng 30 phút rồi lại ra đi biền biệt.

Trong sinh hoạt chung của Giáo hội Tăng-già, Sư cũng là vị sư mờ nhạt, sau khi xuất gia thọ giới, Sư hòa lẫn vào những vị Tỷ-kheo khác trong đại chúng du tăng ngày xưa, không có trọng trách gì đặc biệt ngoài việc quản lý y bát, kinh sách, vật dụng cho giáo đoàn. Sư chưa hề trụ trì một lần nào cả nhưng trụ xứ nào Sư đến, Sư đều tích cực ra công đóng góp, nhiệt tâm làm việc săn sóc ngôi Tam bảo nơi đó. Sư chuyên tâm quét tước vườn chùa, dọn dẹp dụng cụ đồ đạc dùng chung của chúng Tăng ngay ngắn thứ tự gọn gàng.

Tịnh xá Trung Tâm quận Bình Thạnh, TP.HCM là nơi trụ xứ lâu nhất và cuối cùng trong cuộc đời tu học của Sư. Và chính nơi đây Sư được nhắc đến như một vị Sư Huynh đau bệnh và mặc nhiên được ưu tiên cho việc an nghỉ dưỡng bệnh. Thân mang bệnh mà tâm Sư không bệnh. Nhớ lại những năm 70, chùa còn thô sơ mái tôn, vách lá, am cốc sơ sài. Sư có một cái cốc ở gốc cây xoài gần ngôi tháp trước chùa hiện nay. Tuy thân đã mang bệnh nhưng mỗi khi khỏe được vài tiếng đồng hồ là Sư đi khắp chùa xem chỗ nào nhếch nhác, không được sạch hay thiếu ngăn nắp là ra tay làm cho đến khi nào đâu vào đấy mới thôi. Đầu những năm 80, chùa xây dựng lại, Sư lại quên đi thân bệnh, chung tay góp sức xếp gạch dọn tôn cho ngôi Tam bảo được trang nghiêm dù đang trong quá trình xây dựng. Những năm 90, thân bệnh càng lúc càng tăng, phải nằm nhiều nhưng Sư vẫn sống đơn giản đạm bạc như thời mở đạo, giường gỗ tạp, chiếu cói đơn sơ. Hồi đó chung quanh am cốc của Sư luôn là nơi sạch sẽ tươm tất, cách biệt với sân chùa bằng một hàng rào bông bụt nên râm mát và yên tĩnh. Sáng chiều, những em sinh viên rất thích xúm xít vào những góc khuất yên ả quanh cốc Sư để học bài, làm bài tập hay dò bài cho nhau.

Sư vốn nghiêm khắc với bản thân. Mỗi sáng trước 4 giờ Sư đã thức dậy, sau giờ niệm Phật thường lệ, Sư thực hiện một vài động tác thể dục nhẹ nhàng. Rồi tự quét dọn nội thất sạch sẽ kể cả khoảng sân nho nhỏ chung quanh am cốc của Sư. Kế tiếp sư lau bàn ghế các vật dụng trong phòng, đặc biệt lau một bức ảnh cũ cỡ 12x18cm được trang trọng đặt ngay trên chiếc bàn duy nhất. Sư tự chuẩn bị bình tách chai nước đun sôi để nguội dùng trong ngày rồi điểm tâm. Mỗi sáng Sư đều làm như vậy, một cách cẩn thận, đều đặn. Cẩn thận và đều đặn đến độ kinh ngạc. Sư trụ nơi đâu thì ở đó am cốc, chùa tháp dường như đều như theo tính cách của Sư và chuyển biến. Đó là tính cách đều đặn và ngăn nắp, gọn gàng và sạch sẽ đến mức độ nghiêm khắc. Công việc làm mỗi ngày như vậy hình như không còn là công việc nữa mà đã trở thành một thời khóa công phu, một pháp môn, thậm chí đã trở thành một thứ đạo ngang tầm với trà đạo, kiếm đạo, hoa đạo... đã được Sư tu luyện đến độ nhuần nhuyễn, chín muồi. Đó là độ nhuần nhuyễn, chín muồi của người sống trong cõi đạo, có thể tạm dùng danh từ thô thiển là Đạo Sống Trang Nghiêm. ‘Sống ngoài cõi đạo’ như bản thân người viết bài này khi quan sát dĩ nhiên là cảm thấy ‘sao mà phải nghiêm khắc như vậy’.

Người em gái sụt sùi kể tiếp, mấy năm sau này, gia đình khá giả lên, gia quyến mỗi năm có đến Tịnh xá thăm Sư, Sư bảo ngồi đó Sư kể chuyện đạo cho nghe. Sư kể suốt buổi rồi bảo về, người em gái có bao nhiêu chuyện thị phi hơn thiệt ở thế gian định mang đến kể lể với Sư nhưng không lần nào kể được. Kể chuyện đạo xong Sư bắt đi về, về mà còn ngoái lại Sư cũng không cho, bảo rằng đừng quyến luyến làm gì, để Sư yên tâm tu học. Phận làm cư sĩ ở thế gian thì về lo tu hạnh cư sĩ tại gia tránh ác làm lành, ăn chay niệm Phật là quý rồi.

Giác Nhuận, một vị tu xuất gia cùng thế hệ với Sư kể rằng hồi còn sa di, Sư Châu đã khó tính, mấy chú sa-di khác phải kiêng dè. Hồi đó giáo đoàn không cho ăn chiều. Đang tuổi ăn tuổi ngủ, mấy Sư nhỏ mật ước với nhau lén dấu được ít bánh trái. Đến chiều ra sau dãy cốc chia nhau đỡ dạ qua đêm. Phần của Sư Châu và Sư Vạn thì có để dành phần nhưng không dám đem đến, vì biết chắc là sẽ bị từ chối, nhiều lần đã bị Sư trừng mắt bỏ đi. Rõ ràng, tuy còn trẻ tuổi, Sư thuộc thành phần nghiêm khắc của tăng đoàn. Sư khẳng khái trong phương diện giới luật như vậy, nhưng trong tình đồng đạo nghĩa đồng môn thì Sư âm thầm khẳng định. Bức ảnh Sư chụp chung với huynh đệ từ hồi nào vẫn chiếm vị trí xứng đáng trên chiếc bàn độc nhất trong gian cốc nhỏ bé khiêm tốn của Sư. Hậu cảnh nổi bật của bức ảnh là Thanh Tịnh Am, Hà Tiên, một địa chỉ rất quen thuộc của những vị khất sĩ chuyên tu thời bấy giờ. Nhìn chi tiết hơn thì đó là bức ảnh Sư chụp chung với huynh đệ đồng song thuở giáo đoàn Khất sĩ còn đi du hành thuyết giảng, du phương khất thực giáo hóa nhân sinh. Trong bức ảnh đó có Giác Vạn, Giác Nhuận, Giác Nhàn, Giác Lợi...

Đều đặn đến độ nghiêm khắc như là một thời khóa công phu mỗi sáng, Sư lấy khăn sạch lau qua bức ảnh một lần, nhìn huynh đệ Tỷ-kheo trong chúng hiệp hòa một lần, những gương mặt thân thương ngày xưa, vui buồn cùng chịu, sướng khổ có nhau. Ai có thấy Sư lau ảnh huynh đệ trong giáo đoàn thì sẽ thấy một trạng thái nhập thần kỳ lạ mỗi sáng tinh mơ. Lúc ấy Sư trọn vẹn, một niệm duy nhất mà không hề tạp niệm nào khác dù chỉ là dấu vết phảng phất. Sư là ảnh, ảnh là Sư hòa nhập với nhau, dường như chẳng còn là hai mà cũng không phải là một.

Mỗi sáng một lần, mùa Đông cũng như mùa Hạ; nắng mưa không đổi. Nhẩm tính bốn mươi năm qua, Sư đã lau hơn 14 ngàn lần. Thương kính tình huynh đệ, nghĩa đồng môn như vậy, không những đối với chư Tăng còn sống phạm hạnh, ngay cả những vị tu xuất như Giác Lợi, Giác Nhuận, Giác Tôn... Sư cũng ấm áp đạo tình. Thấy lâu không tới, Sư nhắc ‘Sao không về chùa thăm huynh đệ’. Mỗi lần huynh đệ ngày xưa về lại Tịnh xá, Sư đem chuyện ngày mở đạo ra kể; tính tình, hạnh tu, phong cách của mỗi vị được Sư kể lại thỉnh thoảng chen vào vài mẫu chuyện hóm hỉnh để cũng hoan hỷ với nhau.

Không trụ trì, không thuyết pháp, không chức phận, không danh tiếng, quả thật nhìn chung thì Sư Châu vẫn là vị Sư mờ nhạt. Không chờ người khác nói, bản thân Sư hình như cũng biết điều đó. Những năm sau này, khi được giới thiệu vào Giáo Hội chung, được tấn phong giáo phẩm Thượng tọa rồi Hòa thượng, Sư cũng lẳng lặng phận mình. Thi thoảng có người đến xưng gọi phẩm trật danh xưng chính thức, Sư một mực bảo rằng cứ gọi Sư Châu.

Thiền sư thì thường có gậy trúc, trông chắc hẳn là tiêu sái thong dong hơn nhiều. Đưa lên hình ảnh thì Thiền sư gậy trúc chắc hẳn là một nét đẹp trong tranh, một nét văn hóa cửa thiền thường thấy. Sư Châu cũng chẳng màng đến việc đó, mỗi ngày mượn một thanh củi vừa tay vừa tầm làm gậy chống đi quanh chùa, thỉnh thoảng la rầy mấy chú sa-di không biết thu thúc, đi đứng buông lung, không tiếc trọng thì giờ tu học. Sư Châu cũng không cần phải tế nhị sợ người thương kẻ ghét. Đại chúng đang dùng cơm, nếu thích thì Sư ghé vào rầy la vài tiếng đại loại như ăn cơm của đàn na tín thí mà không lo tu học thì phải trả nợ tín chủ. Vào chùa không lo làm công quả sau này hết phước khó tu lâu bền... Có lẽ vì vậy mà trong đôi mắt của mấy chú sa-di thì Sư Châu là một vị sư già cả khó tính. Mấy chú đâu có biết rằng đó là chuẩn mực để nuôi dưỡng giới thân huệ mạng suốt một kiếp tu hành. Có lẽ vì không tế nhị và hay la rầy bất tử, cụ thể có khi dường như bâng quơ nên mấy chú thường sợ nên ít khi thân cận.

Những tháng cuối cùng, sức khỏe cạn dần, bệnh tật hoành hành, Sư vẫn bình thản, khẳng khái một cách lạ thường. Sư không còn la rầy nữa mà chỉ lặng lẽ đến đi, lặng lẽ thăm viếng, rồi lặng lẽ bỏ đi. Mọi việc bình thản như không. Càng đến cuối đời, mọi việc đối với Sư Châu càng trở nên sương khói, huyễn mộng; và dường như Sư đã đặt một chân vào một thế giới chân thật bất hư, nên tinh thần Sư bỗng như sảng khoái và khẳng quyết hơn bao giờ hết. Sư Châu là thế, một hình ảnh mờ nhạt so với những ngôi sao, những ưu tú của tăng đoàn là thế. Ai có biết đâu trong cái mờ nhạt đó, trong thân tướng ốm yếu lom khom đó lại chứa đựng một trọn vẹn đạo tình sơn môn cốt nhục và một thăm thẳm của cõi đạo mà phàm nhân vói hoài không tới. Đó là cái mờ nhạt mà những ưu tú, những ngôi sao của tăng đoàn và đặc biệt là những tăng sĩ trẻ của thế hệ sau phải cầu học cả đời.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan