CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Tiểu sử cố Ni sư Tưởng Liên

I. THƠ ẤU ĐẾN XUẤT GIA

Ni sư Tưởng Liên, thế danh: Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1940, nguyên quán thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Sĩ, thân mẫu là cụ bà Huỳnh Thị Truyện.

Gia đinh đều tín ngưỡng Phật giáo, thường làm các việc thiện, giúp đỡ người khốn khó, thi ân bố đức, trọng điều nhân nghĩa.

Cụ ông, cụ bà sinh hạ được năm người con: ba trai hai gái. Ba người con trai lần lượt qua đời, chỉ còn được hai chị em gái.

Năm 1965, đoàn Du Tăng Khất Sĩ hành đạo tại Sông Cầu, xây dựng Tịnh xá Ngọc Yên. Vì nhân duyên, nhà Người gần bên tịnh xá nên thường tới lui làm công quả, cúng dường và thọ Tam quy Ngũ giới, và được đặt pháp danh là Ngọc Quý.

Sau khi thấm nhuần đường lối tu hành giáo lý Khất Sĩ, Người tìm con đường xuất gia giải thoát.

Tháng Giêng năm 1966, Người vượt lên nữ nhi thường tình, từ giã mẹ già và em gái cương quyết ra đi giải thoát.

Ngôi chùa đầu tiên Ni Sư trụ và tu học là Tịnh Xá Ngọc Hải thuộc thôn Cát Lợi, xã Vĩnh Lương, Nha Trang, Khánh Hòa.

II. ĐỜI SỐNG XUẤT GIA VÀ HÀNH ĐẠO

Được sự thâu nhận của vị thầy đỡ đầu là Ni Trưởng Hoa Liên và Ni Trưởng Huệ Liên, người được ghép mình vào đời sống xuất gia, học tập các oai nghi giới hạnh của người tập sự, Sadi Ni.

Rằm tháng 7 năm 1967, nhân lễ Tự Tứ Tăng tại Tịnh xá Ngọc Quang – Buôn Mê Thuột, Người thọ giới Sadi Ni và được đổi pháp danh là Liên Tưởng, trụ xứ tại Tịnh xá Ngọc Ban, Buôn Mê Thuột.

Đến năm 1968, nhân duyên hội đủ, Đức Thầy Giác An lập Tịnh Độ Ni Giới tại Lương Sơn – Khánh Hòa để tiếp độ chư Ni. Năm 1969, Người tu học tại Tịnh xá Ngọc Túc, An Khê, Gia Lai.

III. ĐỘ CHÚNG NI VÀ XÂY DỰNG ĐẠO TRÀNG

Năm 1970, Ni Sư được Giáo hội đổi về trú tại Tịnh Độ Ni Giới.

Năm 1971, Ni Sư thọ Thức-xoa-ma-na.

Năm 1973, Ni Sư trụ xứ tại Tịnh xá Ngọc Bảo, Phan Rang-Tháp Chàm, Ninh Thuận.

Năm 1974, Lễ Tự Tứ Vu Lan tại Tịnh xá Ngọc Hòa, Nhơn Lý, thuộc thành phố Quy Nhơn, Bình Định, Sư Cô được thọ Tỳ-kheo-ni cụ túc giới.

Sau lễ Vu Lan, Ni Sư được Giáo hội đổi đi trụ trì tại Tịnh xá Ngọc Thiền, Bầu Ốc, Phan Thiết, Bình Thuận.

Sau ngày thống nhất đất nước, Ni sư được đổi về trụ trì Tịnh Độ Ni Giới thuộc xã Vĩnh Lương, Nha Trang, Khánh Hòa cho đến nay.

Năm 1992, Nguyễn Thị Tuyết – cô em gái duy nhất theo chồng định cư bên Úc, nhà chỉ còn một mẹ già, chạnh lòng hiếu đạo, Ni Sư bạch xin Giáo đoàn cho phép đưa mẹ về Tịnh Độ Ni Giới để phụng dưỡng, tiện bề chăm sóc.

Suốt 13 tháng trời ròng rã vất vả lo toan, Tịnh Độ Ni Giới đơn sơ ngày nào, giờ trở thành một ngôi Tịnh Độ khang trang, phòng ốc rộng rãi, có đủ tiện nghi cho Ni chúng tu học và làm nơi để chư Ni vãng lai khi tổ chức lễ tưởng niệm Tổ Sư, góp phần làm tăng thêm trang nghiêm Tịnh Độ. Thành quả đó đều là nhờ vào sự đóng góp của các tịnh xá trong Giáo đoàn cùng sự tùy hỷ cúng dường của Phật tử thập phương, nhất là công đức của Ni Sư trụ trì cùng Ni chúng tại Tịnh Độ Ni Giới.

Năm 2002, Ni Sư được chư Tôn Đức Giáo Đoàn III và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tấn phong lên hàng giáo phẩm Ni Sư của Giáo đoàn và Giáo hội.

Ni Sư đã độ nhiều đệ tử xuất gia cũng như tại gia, có vị đã được bổ nhiệm trụ trì như Ni Sư Lạc Liên, trụ trì tại Tịnh xá Ngọc Hiệp, thị xã Ninh Hòa – Khánh Hòa và một số Sư Cô đã trưởng thành nhưng vẫn còn ở lại Tịnh Độ Ni Giới cùng lo tu học với Ni Sư.

IV. NHỮNG NGÀY THÁNG CUỐI CÙNG VÀ LỜI DI HUẤN

Suốt 45 năm, thể theo hạnh nguyện cuả Tổ Thầy “Nối Truyền Thích Ca Chánh Pháp”, Thầy chúng con mỗi ngày đề tinh tấn hành trì, tinh chuyên công phu niêm Phật, học giáo lý trong Chơn Lý, mặc cho thời gian úa màu, lưng mỏi, gối dùn, tuổi cao sức yếu nhưng Thầy vẫn kiên trì, tinh tấn. mỗi ngày Người thức dậy từ lúc 2 giờ khuya, công phu, trì niệm và tọa thiền đến sáng. Việc tu học của người nhằm mong cầu tỏ ngộ pháp Phật thúc liễm thân tâm, trau dồi trí tánh, để ngăn chặn những mồi danh bã lợi, để tránh phá trừ ái – hữu – vô minh do ma tham, sân, si quyến rũ, khuấy rối. Mỗi ngày Thầy đều công phu không hề biếng trễ. Để thực hiện chí nguyện “Nối Truyền Thích C a Chánh Pháp” như lời Tổ dạy, dầu bận rộn thế nào, Người cũng giữ hạnh “trì bình khất thực”, vì đó là hạnh của người học Phật, hạnh Khất Sĩ: “Trên xin giáo pháp của chư Phật để nuôi lớn pháp thân, dưới xin vật chất của đàn việt để nuôi huyễn thân, mượn thân để làm pháp hóa duyên, khéo độ chúng sanh”.

Cả cuộc đời Người sống thanh bần, giản dị. Đối với chúng con, Người chỉ những gì Người thực hành. Mỗi sớm mai trì bình khất thực hóa duyên, trưa về độ ngọ, xế chiều học Chơn Lý, công phu niệm Phật. Sợ lo đệ tử mình giải đãi, buông lung, Người cũng như vị Tổ Thầy đi trước, biết mình sắp xả báo thân tạm bợ này, Thầy kêu các đệ tử lại và chỉ dạy: “Các con hãy cố gắng tu học để duy trì mạng mạch Phật Pháp để cho Phật Pháp trường tồn hưng thịnh, để tốt đời đẹp đạo, không gì hơn các con hãy duy trì hạnh trì bình khất thực hóa duyên, tu học theo Chơn Lý của chư Phật Tổ đã dạy. Nếu các con ở xa hãy cố gắng sum họp cùng nhau sống trong tinh thần Lục Hòa, tu học Giới – Định – Tuệ.”

Dự kiến và linh cảm được mình sắp đi xa, ngày 16 tháng Tư năm Canh Dần, khi Sư Cô Chơn Liên về Tịnh Độ để cùng với chư Ni đi Tịnh xá Trung Tâm tại Thành Phố Hồ Chí Minh học “Khóa bồi dưỡng trụ trì”, Thầy con không đi và tiên liệu trước ngày từ giã cõi đời theo Tổ Thầy. Thầy nói với Sư Cô Chơn Liên rằng: “Năm nay Cô sẽ theo Đức Trưởng Lão”.

Hôm nay tâm nguyện độ sanh đã viên mãn, Ni Sư xả bỏ nhục thân với tuổi đời 71, 36 hạ lạp:

Xác thân trần tạm mượn độ nhân sanh

Nương thuyền nhỏ để đi qua bờ giác

Mang sứ mạng một thời viên mãn

Thần thức về nguồn cội chốn lạc bang.

Nam Mô Giác Linh Ni Sư trụ trì Tịnh Độ Ni Giới thùy từ chứng giám.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan