CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Vài ý Pháp trong Chơn Lý "Có và Không" (số 6) và phẩm “Vô tác” (thứ 43) trong Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật

 Vào chiều ngày đầu tiên (04/11/Quý Tỵ), Hòa thượng Giác Toàn – Trưởng ban Tổ chức khóa tu đã chia sẻ với đại chúng những ý pháp căn bản trong Chơn lý “Có và Không” (số 6) và phẩm “Vô tác” (thứ 43) trong Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. Vì thời gian không cho phép, nên Hòa thượng đã trích đoạn và phân tích một số ý trong Chơn Lý “Có và Không” để nêu bật nội dung đề tài.

 

HT. Giác Toàn – chia sẻ với hành giả những ý pháp

trong Chơn Lý "Có và Không" (số 6) và phẩm “Vô tác” (thứ 43) trong Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật

Thông thường, con người thường rơi vào hai cực đoan, chấp có hoặc chấp không. Chấp “có” là nhìn mọi sự vật trong vũ trụ trên bề mặt hiện tượng. Chấp không là nhìn mọi sự vật hiện tượng trên bình diện bản thể. Phần lớn con người không rơi vào bên này thì cũng kẹt bên kia, ít ai nhận chân được các mặt của các pháp. Tổ sư Minh Đăng Quang nói: “Pháp có thể, có tướng, có dụng, có lý. Thể của pháp là cái có hình dạng. Tướng của pháp là sự khác nhau của hình dạng. Dụng của pháp là tác dụng, cử động, sanh sống ích lợi của thể tướng. Lý của pháp là sự hư-nên, còn-mất, có-không, tốt-xấu, sạch-dơ, thấp-cao, đen-trắng”. Do đó, nếu hành giả nhận chân được các phương diện của pháp thì không còn chấp chặt một bên, mà lúc bấy giờ có thấy các pháp thì các pháp cũng là “diệu hữu” và nếu có nhìn các pháp trong bản thể vô ngã thì “không” không phải là không ngơ, mà sẽ trở thành “chân không” như kinh Đại Bát Nhã thường đề cập. Một khi hành giả có được cái nhìn chân chánh về vạn pháp thì chắc chắn sẽ đạt được giải thoát như đoạn kệ trong bài Ý mà Tổ sư đã dạy:

“Chấp không chấp có rầy rà

Đến khi vô chấp mới hòa thuận nhau

Sao sao thôi cũng là sao

Sự chi cũng vậy thế nào cũng xong

Tâm không vạn sự đều không

Tâm chơn vạn pháp thảy đồng quy chơn”

Trong Chơn Lý “Có và Không” này, Tổ sư còn đưa ra cái nhìn Giới Định Huệ dưới góc độ mối quan hệ giữa Có và Không: “Có giữ giới vạn vật mới tốt đẹp. Có thiền định chúng sanh mới sống đời. Có trí huệ các pháp mới trọn lành trong sạch. Giới Định Huệ là một thân hình tốt đẹp của cái ‘có’, xứng đáng ‘có’ an vui. Chúng ta cần phải giữ cái ‘có’ của Giới Định Huệ ấy, bởi nó là chơn lý của võ trụ, nó là ý muốn của cái không, vì cái không là bà mẹ của chúng ta”.

Hòa thượng còn nhấn mạnh đến quan niệm “có” và “không” của Tổ sư giữa hai nhóm phạm trù đối lập mà một hành giả cần phải quan tâm để tu tập, để chuyển hóa, để thành tựu được mục đích tối hậu. Tổ nói: “Tham sân si là không (bởi khổ). Giới Định Huệ là có (bởi vui). Lẽ khổ là trái ngược, lẽ vui là xuôi thuận đi tới. Vậy nên chơn lý của võ trụ là tiến thì Giới Định Huệ là cái kết quả của không gian, kết tinh lại các điều thuần túy, mà làm thành đứa con ngoan là Phật.”

Trong đoạn cuối của Chơn Lý “Có và Không”, Tổ sư đã đưa ra nguyên nhân tại sao phần lớn chúng sanh rơi vào chấp có và chấp không, “khiến nên không và có là hai bờ lề, chúng sanh mảng ngó qua xem lại cái nào cũng phải, lẽ nào cũng hay, khó nổi biện phân, nên không trông thấy đạo, không lìa một chỗ, cái khổ chẳng rời. Chớ chi người ta chịu hiểu rằng: Cái có là chân, cái không là đầu, cái trung là ở giữa, trung mới là đạo là mình, cái mình là chỗ nuôi sống, chẳng rời đầu và chân, gồm cả ba phần ấy, mới gọi một thân sống”.

Hòa thượng đã nương vào lời dạy của Tổ sư mà triển khai, giúp hành giả thấy được cái mực trung đạo, thấy được hiện tượng và bản thể của vạn pháp thông qua sự biểu hiện của nó ở dạng kết hợp hoặc tan hoại. Có và không chỉ là ngôn ngữ giả định mang tính quy ước để mô tả. Thấy được như vậy, hành giả sẽ dần dần chuyển hóa, đạt đến chơn như. Lúc bấy giờ hành giả sẽ tự tại với có, với không, vì tất cả đều đã trở về với chơn như, như lời Tổ dạy: “Có để đặng chơn như, không để đặng chơn như, trung để đặng chơn như, chấp gồm ba pháp để đến chơn như, không chấp cũng chơn như. Chơn như mới là thiệt có, chơn như mới là thiệt không, chơn như mới là thiệt trung, chơn như mới thiệt là ta, là Phật.”

Trong phần cuối bài giảng, Hòa thượng đã trích một đoạn đối thoại giữa Đức Phật và tôn giả Tu Bồ Đề thuộc phẩm 43 “Vô Tác” trong Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật để triển khai, gợi ý cho hành giả một cái nhìn tổng thể giữa tư tưởng của Tổ sư và văn hệ Bát Nhã: “Này Tu Bồ Đề! Đối với các pháp, Bát-nhã Ba-la-mật này không có năng lực, không chẳng phái năng lực, cũng không lãnh thọ, không ban cho, chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng cấu, chẳng tịnh, chẳng thêm, chẳng bớt. Bát-nhã Ba-la-mật này cũng chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lại, chẳng phải hiện tại, chẳng bỏ cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, cũng chẳng trụ cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc. Bát-nhã Ba-la-mật này chẳng ban cho Đàn-na Ba-la-mật cho đến Thiền-na Ba-la-mật và Bát-nhã Ba-la-mật cũng chẳng bỏ Đàn-na Ba-la-mật đến Thiền-na Ba-la-mật và Bát-nhã Ba-la-mật... Những pháp tướng này luôn thường trụ không khác, vì pháp tướng, pháp trụ, pháp vị thường trụ chẳng sai, chẳng mất vậy.”

Qua lời phân tích của Hòa thượng, mỗi hành giả tự cảm nhận được sự uyên áo của kinh văn Bát-nhã và những điểm tương đồng giữa quan điểm của Tổ sư và kinh văn Phật giáo Đại thừa, khẳng định hơn nữa lời dạy của Tổ sư trên con đường tu tập.

Buổi nói chuyện kết thúc trong niềm hoan hỷ của đại chúng.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan