CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Ngày xuân đọc Chơn Lý “Chánh Kiến”

Trong tiết giao mùa, đông mãn xuân sang, khí xuân dìu dịu mang theo hương của trăm hoa. Nhân buổi thanh nhàn, lần đọc từng trang Chơn Lý “CHÁNH KIẾN”, thấy rõ được sự thâm thúy của lý nghĩa mà Tổ sư đã chỉ dạy, xin ghi vài hàng để chia sẻ với bạn đọc gần xa.

Chánh kiến là chi phần đầu tiên trong Bát Chánh Đạo. Bát Chánh Đạo là ý pháp căn bản mà đức Phật đã tuyên thuyết ngay sau khi đắc đạo nơi Vườn Nai trong bài Kinh Chuyển Pháp Luân.

Đến thời kỳ Tổ sư Minh Đăng Quang lập giáo hành đạo thì Chánh kiến là chủ đề 26 trong 69 đề tài mà Tổ sư đã giảng dạy. Đức Tổ muốn phá chấp, hướng dẫn chúng ta đi đúng đạo lộ giác ngộ, giải thoát, thoát ra khỏi sự trói buộc của tà kiến mê tín ngàn năm.

Những người hời hợt thì hay có cách nghĩ “xưa bày nay làm” nên những nề nếp hủ tục ngày xưa vẫn giữ nguyên mà làm và không cần hiểu ý nghĩa việc làm. Trên bước đường hành đạo, Tổ sư khêu cao ngọn đèn chơn lý cho chúng ta “thấy rõ lẽ chánh để thật hành theo, khỏi phải mê tín, vì mê tín là việc làm xấu xa bị người chê ngạo cho những cái việc làm xu hướng, mà không hiểu ý nghĩa của việc làm, khác thể như người đau mắt, lần mò đi đêm vậy” (Chơn lý “Chánh Kiến”). Thật không khổ nào hơn mắt đã đau, thị lực kém lại phải dò dẫm đi trong đêm tối, thì cơ hội thấy lờ mờ cũng không còn nữa, chỉ toàn một khoảng tối đen mịt mờ trước mắt, không thấy được ánh sáng soi đường, làm sao không lạc lối.

Mê tín dị đoan là trình độ thấp nhất của những người có tâm đạo, vừa mới phát triển tâm linh, chưa hiểu mà tin, chưa rõ mà theo, thiếu ánh sáng của sự hiểu biết khoa học, thiếu lòng tin vào sức mạnh thực sự của con người, khó lòng phân biệt đâu là đường thật, đạo thật. Tổ sư đã dùng pháp chánh kiến phá tan mê tín dị đoan, giúp cho người thoát khỏi sự mê muội trong tín ngưỡng. Sự phá chấp của Tổ sư không chỉ dừng ở mức độ hình thức, những tập tục xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, mà đi lần vào trong hệ thống triết lý cao siêu của đạo pháp.

Sự phá chấp về mê tín dị đoan của Tổ sư rất có cơ sở. Ngài nghiên cứu tận cội nguồn của những tập tục như tục cúng sao, tục mở của mả, tục thờ bàn thiên, ông táo, tục thờ ông thờ bà v.v… giải thích minh bạch việc mà mọi người gọi là thần linh và mê tin thờ phượng, chỉ rõ cho mọi người hiểu để không còn nô lệ thần linh. Chơn lý “Chánh Kiến” Tổ sư dạy: “Người ta ví kẻ tài danh trí giỏi, đem sự ích lợi nêu gương sáng cho đời soi học là những ngôi sao, tên của ngôi sao ấy là do đức hạnh của vị ấy mà có; cõi đời vô minh, dốt nát mê muội như đêm hôm, thì những ngôi sao ấy là các bậc danh nhân tên tuổi tiếng tăm lành sáng… Chớ không phải là đốm sáng trên không trung kia”.

Người chưa có chánh kiến, đầu năm lũ lượt đến chùa, lo cúng sao giải hạn, và khi cúng xong là an tâm tạo nghiệp. Nếu thực tế tin cúng sao có kết quả, thì chúng ta phủ nhận luật nhân quả trong giáo lý đạo Phật hay sao? Người có trí tuệ chúng ta nghĩ sao về việc làm vô ích, trái với sự bình đẳng công lý võ trụ?

Theo thông lệ, con người khi trưởng thành, thành gia lập nghiệp, xây cất được ngôi nhà thì đây là sự thành công lớn lao đầu đời. Tâm lý lo sợ phập phồng, e sợ mình không đủ khả năng gìn giữ, tìm nương tựa vào một đấng quyền năng, nên vội vàng đi xem tuổi tác để thỉnh thần thánh về thờ, mong được vững vàng gia nghiệp. Rồi vì không hiểu, thiếu cái thấy chánh chơn, nghe người buôn bán bày vẽ, nam thờ Quan Công, nữ thờ mẹ sanh mẹ độ, nên vội vã thỉnh tượng lập trang đêm ngày cúng bái, van vái nguyện cầu, quả thật là yếu đuối.

Những vị anh hùng dân tộc có công dựng nước và giữ nước, cứu gỡ ách nạn xâm lăng, nước ta không thiếu, như Vua Hùng, Vua Trần, Vua Lê, Bác Hồ hay Bà Trưng, Bà Triệu, các anh hùng liệt sĩ, sao ta không tưởng niệm tôn thờ, mà lại đi cúc cung thờ phụng danh tướng nước ngoài? Tại sao bà mẹ mang nặng đẻ đau, cưu mang hoạn dưỡng ta từ khi trứng nước đến lúc lớn khôn, ta không cung kính phụng dưỡng sớm hôm, để phần nào đáp đền công ơn sanh dưỡng, mà lại đi thờ bà Lê Sơn, bà Thánh Anh La-sát ở đâu, xứ nào mà ta không biết?

Chúng ta nên hiểu rằng kính thờ Phật thánh là do mến đức trau tâm, noi gương tu tập, chớ nào phải đâu kêu réo vọng cầu, đút lót mong sự chở che. Cõi trời, cõi đất là bậc trí bậc mê, chớ không ở đâu đâu cả. Tên của Phật Thánh Thần Tiên là pháp lý, chớ không nhất thiết là phải có thật. Vậy nên chúng ta phải học, nếu không học hỏi việc xưa nay, nhắm mắt làm theo mà không biết, thì có hại mà bị chúng chê cười, nhất là người Phật tử cần phải có chánh kiến, phải biết lựa chọn việc ích lợi mà làm, đừng xu hướng bắt chước, làm những việc không công vô ích.                     

Trong Chơn lý “Chánh kiến” Tổ sư hướng dẫn việc thờ cúng: “Sự cúng tế là tốt cho tâm tu trí học, mà nên cúng tế Thánh Hiền và phải hiểu kỹ lịch sử, lý nghĩa sẽ nên thờ, còn việc nào nhảm nhí không rành, thì nên bỏ đi cho rảnh. Sự thờ cúng là để nhắc nhở noi gương, nên thờ cốt tượng sao bằng thờ kinh sách, thờ kinh sách sao bằng thờ ông thầy dạy đạo, thờ ông thầy sao bằng thờ bản tâm trong sạch của mình. Bởi cung kỉnh là để vâng lời, vâng lời là để thật hành, thật hành là kết quả, quả ấy là bản tâm. Vậy nên chúng ta phải thờ cúng lễ bái bản tâm là điều cần hơn hết”.

Tóm lại, đọc kỹ Chơn Lý “Chánh Kiến” ta sẽ thấy được con đường Chánh đạo. Thực hành chánh kiến là chuyển hóa từ hình thức tín ngưỡng, tiến dần vào nội dung tu tập, phát triển tuệ giác, thoát khỏi tà kiến mê muội trong tín ngưỡng, tiến đến con đường tiến hóa tâm linh, mà trong Chơn lý “Bát chánh đạo” Tổ sư đã xác định:

“Từ nước đến Phật, từ kiến đến Định là nấc thang tấn hóa kêu là đạo… Người tà kiến thì đi sâu vào chốn khổ mịt mờ đen tối, nếu quay trở lại chánh kiến, tức nhiên giải thoát sáng lạn vui tươi. Bởi vậy cho nên: Chánh kiến là đạo thoát khổ của kẻ tà kiến... Chúng sanh từ tà kiến đến tà định là đắc đời, bất thối chuyển đời. Chư Phật từ chánh kiến đến chánh định là đắc đạo, bất thối chuyển đạo. Đời cấu trược tối đen, sống giây phút thời gian theo giấc ngủ. Đạo thanh tịnh thiện sáng, sống chắc chắn vui tươi của người thức, cảnh ban ngày”.

Đến đây người đọc mong rằng tất cả ai ai đều có đủ nhân duyên đọc qua Chơn Lý “Chánh Kiến” để đi đúng nẻo chơn như, con đường giác ngộ của chư Phật ba đời.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan