CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Đọc Chơn Lý "Bát Chánh Đạo" -Phần 3

Chánh văn:

7. Sự niệm tưởng chơn chánh, niệm tưởng việc qua rồi, việc hiện tại, và việc sẽ đến, phải ghi nhớ điều răn dạy, hằng ngó mắt xuống một chỗ tâm chơn, không cho vọng động, không quên lẽ đạo, cho hạp lẽ chánh chơn thật.

Nội dung chính của Chánh Niệm được miêu tả trong đoạn "phải ghi nhớ điều răn dạy, hằng ngó mắt xuống một chỗ tâm chơn, không cho vọng động, không quên lẽ đạo". Chánh Niệm có mối liên quan hữu cơ với tất cả những dạng thiền tập khác. Từ thiền Tịnh chỉ (Samadhi) đến thiền Minh sát (Vipassana), từ thiền Tứ Niệm Xứ cho đến Từ bi quán. Chánh Niệm trong kinh tạng truyền thống là một yếu tố chủ lực, yếu tố trung tâm của việc thiền tập, là nội lực của thiền tập. Thân hành niệm là một dạng của chánh niệm được kinh tạng đề cao. "Như một ai, này các Tỷ-kheo, với tâm biến mãn cùng khắp biển lớn, có thể bao gồm tất cả con sóng bé nhỏ đổ vào biển cả, cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai tu tập, làm cho sung mãn thân hành niệm, cũng bao gồm tất cả thiện pháp, gồm những pháp thuộc về minh phần" hay "Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến cảm hứng lớn, lợi ích lớn, an ổn lớn khỏi các khổ ách, chánh niệm tỉnh giác, đưa đến chứng đắc tri kiến, đưa đến hiện tại lạc trú, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm." (Tăng Chi Bộ Kinh, chương Một Pháp).

Chánh Niệm được Thupten Chodron định nghĩa và giảng giải rất căn bản và chuẩn mực: "Chánh Niệm là một thành tố của dòng chảy tâm thức có chức năng ghi nhớ, chức năng chú ý và cuối cùng là chức năng hướng tới những gì có lợi lạc" (xem: Thuần Hóa Tâm Hồn, trang 139). Ba chức năng trên đem so với "phải ghi nhớ điều răn dạy, hằng ngó mắt xuống một chỗ tâm chơn, không cho vọng động, không quên lẽ đạo" thì sẽ thấy có một mức độ tương đồng thú vị giữa bên kia là Thuần Hóa Tâm Hồn (THTH) với bối cảnh hình thành là nền Phật học Hoa Kỳ khoa bảng hòa với truyền thống Kim Cang Thừa trên nóc nhà thế giới quanh năm tuyết phủ của cao nguyên Ấn Tạng và bên này là Chơn Lý với bối cảnh hình thành đơn sơ nhưng kỳ vĩ của vùng sông nước phù sa Nam Việt.

Người đọc quay trở lại chi phần Chánh Kiến và đọc được đoạn diễn giải sau đây trong Kinh tạng: "Ai tinh tấn đoạn trừ tà kiến, thành tựu chánh kiến; như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà kiến, chánh niệm đạt được và an trú chánh kiến; như vậy là chánh niệm của vị ấy. Như vậy ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh kiến, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn chánh niệm." Đoạn này áp dụng cho tất cả 5 chi BCĐ đầu tiên, trong đó có cả Chánh Kiến. Như vậy, có ba pháp nói chung hay cụ thể là ba chi BCĐ quyết định việc tu tập có thành công hay không, đó là Chánh Kiến, Chánh Tinh tấn và Chánh Niệm. Người đọc đề nghị một cách nhìn, Chánh Kiến như đèn sáng, Chánh Tinh tấn như ý chí, và Chánh Niệm như sức khỏe. Xin đặt tên là nhóm công cụ (NCC).

Trong BCĐ, năm chi đầu từ Chánh Kiến đến Chánh Mạng đều có hai loại hữu lậu và vô lậu thì lại có ba chi thuộc NCC chạy theo, chạy vòng theo. Những chi BCĐ còn lại thì không như vậy, không có phân chia mà cũng không có NCC chạy theo, chạy vòng theo. Ba chi NCC năng động nhất, "bao sân" nhất so với 5 chi còn lại. Chức năng của NCC là định hướng, điều tiết và hỗ trợ cho 5 chi, người đọc tạm đặt là nhóm tư tưởng và đạo đức (NTTĐĐ) gồm Chánh Kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng. Ở đây có một điểm rất đạo Phật, Chánh Kiến là khoảng giao thoa giữa hai nhóm, vừa thuộc NCC vừa thuộc NTTĐĐ. Để diễn đạt bằng đồ hình hay đồ họa, Luận lý học sẽ vẽ hai vòng tròn giao nhau, khoảng giao đó được ghi là Chánh Kiến - không có sự cố gì xảy ra.

Nhưng để diễn đạt bằng chữ nghĩa ngôn ngữ, chúng ta lại gặp sự cố. Đoạn chót của câu kinh là: "Như vậy ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh kiến, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm." Nói như vậy có nghĩa là, trong ba pháp chạy theo, chạy vòng theo Chánh Kiến có Chánh Kiến. Nói gọn, Chánh Kiến chạy vòng theo Chánh Kiến. Làm sao A chạy lòng vòng chung quanh A được, làm sao lưỡi dao cắt đứt được lưỡi dao? Triết gia vò đầu bứt trán. Luận lý gia nhăn mặt nhíu mày. Tổ sư Minh Đăng Quang cười cười, bảo hãy đi khất thực hóa duyên. Đừng dại đem đi hỏi thiền sư, thiền sư sẽ phang cho một gậy. Bậc ngộ đạo sẽ "Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh/ Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư". Còn người đọc ở đây tính sao? Xin nhường cho mỗi người hiểu theo kiểu của mình.

Chánh văn:

8. Sự yên nghỉ chơn chánh trước khi nhập định, đang nhập định, sau khi nhập định, phải giữ sự yên lặng, ngừng nghỉ tất cả mọi việc, quyết định không sanh, bất thối, không rời bỏ đạo chánh, nhứt định không xao lãng, không đổi dời, hằng nghỉ ngơi yên vui sau sự thiện huệ, cho hạp lẽ chánh chơn thật.

Trong kinh tạng truyền thống thì Chánh Định không thuộc về NTTĐĐ mà cũng không thuộc về NCC, cũng không chia thành hai loại, hữu lậu và vô lậu. Như vậy, Chánh Định có những đặc điểm rất riêng và mối liên hệ khá độc đáo với những chi BCĐ còn lại. Trở về đầu nguồn của kinh Phật, chúng ta cùng tụng lại đoạn kinh do Tôn giả Sariputta thuyết giảng được ghi lại trong Trung Bộ Kinh, kinh Phân biệt về Sự thật, số 141 (Saccavibhanga sutta) như sau: "Này chư Hiền, thế nào là chánh định? Này chư Hiền, ở đây, Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. (Vị Tỷ-kheo ấy) diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm, (Tỷ-kheo) ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba (Tỷ-kheo ấy) xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh định." Ở đây, người đọc xin mở ngoặc để nói về cách gọi tên Sariputta thay cho Xá-lợi-phất. Cách gọi tên bằng nguyên ngữ Pali được Trưởng lão HT. Thích Minh Châu sử dụng trong những dịch phẩm. Người đọc ưa chuộng cách gọi nguyên ngữ Sariputta vì cách dịch âm Xá-lợi-phất ở những bản dịch khác tuy quen thuộc nhưng thiếu chính xác, hơn nữa đã đánh mất đi phong vị của nền văn hóa Ấn Độ cổ đại nói chung hay nói cụ thể là nền văn hóa Phật giáo thời khởi nguyên. Trong nền văn hóa đó, người phụ nữ hay cụ thể là người mẹ được tôn trọng. Tôn giả Sariputta không có tên của riêng mình và cho riêng mình mà có tên là tên của người mẹ. Sariputta có thể dịch chính xác hơn là Con-của-bà-Sari, tuy có hơi dài và hơi lạ lẫm đối với người Việt Nam nhưng cá nhân người đọc vẫn thấy dễ thương như thường.

Trở lại với đề tài Chánh Định. Rõ ràng, Kinh tạng truyền thống mà cụ thể là tôn giả Sariputta miêu tả Chánh định là thiền Samadhi, hay còn gọi là thiền tịnh chỉ, hiện nay ít phổ biến khi so với dạng thiền phổ biến rộng rãi Vipassana, hay thiền Tứ niệm xứ. Tại sao? Có thể tạm trả lời là vì thiền Samadhi là loại thiền chuyên sâu dành cho những đối tượng muốn giải thoát rốt ráo, đạt đến những quả vị siêu thế. Thiền Samadhi không thích hợp với đại đa số người tập thiền ngày nay, tập thiền với ý muốn đạt được điều mà một đạo sư có thể gọi là "chủ nghĩa thực dụng tâm linh", có nơi gọi là "duy vật tâm linh". Chủ nghĩa này bao gồm ý hướng thu hoạch được những lợi đắc do việc tập thiền mang lại, cụ thể như để xả bớt stress, để thân thể khỏe mạnh, để tinh thần minh mẫn, có thể là để học giỏi hơn, để làm thơ hay hơn; nói chung là để sống thành công hơn, khỏe khoắn hơn, thậm chí là sung sướng hơn về nhiều phương diện, trong đó có những phương diện không liên can gì đến đời sống tâm linh đúng nghĩa.

Trong Chơn Lý, Chánh Định được miêu tả là: "Giữ sự yên lặng, ngừng nghỉ tất cả mọi việc, quyết định không sanh, bất thối, không rời bỏ đạo chánh, nhứt định không xao lãng, không đổi dời, hằng nghỉ ngơi yên vui sau sự thiện huệ". Điều mà chúng ta có thể ghi nhận trước tiên là Chơn Lý không sa đà vào loại "chủ nghĩa thực dụng tâm linh" như đã nói ở trên với ý hướng "quyết định không sanh, bất thối, không rời bỏ đạo chánh, nhứt định không xao lãng, không đổi dời". Chơn Lý đã chủ trương nguyên lý: "Trước khi làm là định, sau khi làm là định. Trước khi nói là định, sau khi nói là định. Trước khi nghĩ ngợi là định, sau khi nghĩ ngợi là định." (Chơn Lý “Nhập Định”) Theo Chơn Lý đây là phương thức hành động của bậc chân nhân giải thoát.

Lùi lại để nhìn tổng quan BCĐ trong Kinh tạng truyền thống, người đọc thấy một mạch liên kết khác giữa tám chi BCĐ. Trong mạch liên kết này, mỗi một chi đều có vai trò bình đẳng với nhau, phần nào phản ánh những mối liên kết trong bộ máy vận hành của một con người theo cách nhìn của Phật giáo. Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikaya) Chương X - Mười Pháp, XI. Phẩm Sa Môn Tưởng có bài kinh Ðiềm Báo Trước nói như sau: "Khi mặt trời mọc, này các Tỷ-kheo, cái này đi trước, cái này là tướng báo trước, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các thiện pháp, cái này là đi trước, cái này là tướng trước, tức là chánh tri kiến. Từ chánh tri kiến, này các Tỷ-kheo, có chánh tư duy. Từ chánh tư duy, có chánh ngữ. Từ chánh ngữ, có chánh nghiệp. Từ chánh nghiệp, có chánh mạng. Từ chánh mạng, có chánh tinh tấn. Từ chánh tinh tấn, có chánh niệm. Từ chánh niệm, có chánh định. Từ chánh định, có chánh trí. Từ chánh trí, có chánh giải thoát." Như vậy 10 chi của BCĐ có mối liên kết của nguyên lý nhân duyên, cái trước là nhân duyên cho cái sau, nói theo ngôn ngữ hiện đại, cái trước là tiền đề cho cái sau.

Ở đây, người đọc thấy độ lung linh trong giáo lý Nhân duyên, tổng quan của giáo lý Nhân quả trong nhà Phật. Khi nói về Nhân quả hay nhân duyên, những bộ óc thô thiển cứ quy kết vào một công thức cứng nhắc theo kiểu hai với hai là bốn. Thật sự không phải như vậy, cái đứng trước chỉ là điềm báo trước, chỉ là tướng báo trước, chứ không hề là cái quyết định tuyệt đối cho cái sau. Dự báo thời tiết là dự báo thời tiết, còn thời tiết có đúng y chang như vậy không còn có nhiều yếu tố khác. Đây dĩ nhiên là điều rất khó chịu đối với những đầu óc tin vào sự quyết định mang tính tuyệt đối của một đấng bậc tuyệt đối nào đó, một thế lực tuyệt đối nào đó. Một chút thương cảm có thể dành cho những đầu óc như vậy. Theo thông tin, có hơn một tỷ người đang chấp nhận cái tuyệt đối, dạng này hay dạng khác, hình thức này hay hình thức khác.

Điều khá lý thú, cách liên kết giữa chi trước với chi sau trong BCĐ cũng là cách nối kết mà Chơn Lý rất ưa chuộng và sử dụng thường xuyên trong hầu hết mọi trường hợp diễn giải giáo pháp, cụ thể từ Chơn Lý “Ngũ Uẩn” cho đến Chơn Lý “Lục Căn”, từ Chơn Lý “Thập Nhị Nhân Duyên” đến Chơn Lý “Bát Chánh Đạo”.

Thứ tự trước sau của 8 chi BCĐ tạo ra một kiểu thứ tự trước sau của bộ ba Giới-Định-Tuệ. Nhìn lại thì người đọc phát hiện ra trật tự của bộ ba này không còn là Giới-Định-Tuệ mà là Tuệ-Giới-Định, nếu tính Chánh Kiến và Chánh Tư duy thuộc về Tuệ, Chánh Ngữ và Chánh Nghiệp thuộc về Giới, và Chánh Niệm, Chánh Định thuộc về Định. Như vậy, người đọc có kết luận tạm thời là Kinh điển truyền thống không gắn kết 8 chi của BCĐ theo khung Giới-Định-Tuệ của giáo khoa Phật giáo hiện đại. Nói cách khác, khung Giới-Định-Tuệ hay có khi gọi là pháp môn Giới-Định-Tuệ khi đặt song song với 8 chi BCĐ sẽ sinh ra ít nhiều lúng túng vì trật tự Giới, rồi tới Định, sau cùng mới là Tuệ của khung Giới-Định-Tuệ đã bị xốc xáo nếu thuận theo trật tự trước sau của 8 chi BCĐ. Rõ ràng, trong cấu trúc của BCĐ, tu Tuệ lại nằm ngay ở điểm xuất phát gồm chi Chánh Kiến thứ nhất và chi Chánh Tư duy thứ hai. Tu Định không giữ được vị trí chính giữa mà lại bị đẩy xuống ở hai chi chót là chi Chánh Niệm áp chót và chi Chánh Định sau chót. Tu Giới không giữ được vị trí xuất phát như là nền tảng của công trình tu hành mà bị rơi vào vị trí chính giữa gồm chi thứ ba Chánh Ngữ, chi thứ tư Chánh Nghiệp và chi thứ năm Chánh Mạng. Có lẽ nhận ra sự xốc xáo này nên Thupten Chodron đã xếp đặt trật tự của các chi BCĐ theo cách riêng như sau:

Sự thật về con đường đưa đến sự an tịnh:

- Pháp tu học cao thượng về đạo đức:

1) Chánh nghiệp

2) Chánh ngữ

3) Chánh mạng

- Pháp tu học cao thượng về thiền định:

1) Chánh tinh tấn

2) Chánh niệm

3) Chánh định

- Pháp tu học cao thượng về trí tuệ:

1) Chánh kiến

2) Chánh tư duy

(Xem Thuần Hóa Tâm Hồn trang 130)

Rất có thể ngay cả Thupten Chodron đã không tiếp xúc với một bảng kê khác của Chánh Đạo có đến 10 chi trong kinh tạng truyền thống. Chính bảng kê này đã hóa giải vấn đề một cách thông suốt nhưng rất tiếc mô thức Thập Chánh Đạo này đã không được truyền thừa một cách đầy đủ và truyền bá một cách rộng rãi. Trong đó chi Chánh Kiến và Chánh Tư Duy không phải là trí tuệ tối thượng vô lậu của nhà Phật. Nói theo kiểu nhà Thiền đó không phải là lần thấy thứ ba sau khi thấy núi không phải là núi, sông không phải là sông. Còn nói theo kiểu Kinh Kim Cang thì đó không phải là dạng trí tuệ chứa đựng trong câu thứ ba của khung lý luận ba câu. Người đọc xin cải biên một chút để nói theo cách nói của Kinh Kim Cang như sau: Chánh Kiến và Chánh Tư Duy không phải là Chánh Kiến và Chánh Tư Duy mà gọi là Chánh Kiến và Chánh Tư Duy, vậy thôi". Trí tuệ vô lậu rốt ráo của nhà Phật nằm ở chi Chánh Trí và Chánh Giải Thoát trong mô thức Chánh đạo hay Thánh đạo mười chi.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan