CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Đọc Chơn Lý “Bát Chánh Đạo” – phần 2

Quyển Chơn lý Bát Chánh Đạo (viết tắt là BCĐ) đã được giới thiệu tổng quát qua hình thức bố cục của nó gồm bảy phần đánh dấu bằng số La mã từ I đến VI, phần VII có thể xem là phần kết. Phần II có tiểu tựa "Nhơn duyên của tám đạo" đặt sau một câu dẫn khởi. Phần IV có tiểu tựa "Về các pháp của tám đạo" đặt ngay từ đầu. Phần kết bắt đầu bằng cụm từ "Nói tóm lại". Đoạn cuối của phần này lại có một đoạn đính kèm với tiểu tựa là "Tám đạo và tám quả". Phần I đã được bàn thảo, bây giờ chúng ta đọc sang phần II.

Trước đây người đọc có phán đoán rằng quyển Chơn lý “Thập nhị nhân duyên” có những mối liên hệ sâu xa tới những phạm trù triết học căn cơ và mênh mông vũ trụ như Bản thể luận, Nhận thức luận, Đạo đức học, Giải thoát luận. Như vậy có nghĩa là, Chơn lý BCĐ sẽ là bước đầu tiên đánh dấu điểm mà nguồn mạch của Chơn lý rời khỏi cảnh giới của những phạm trù triết học căn cơ và mênh mông. Người đọc đinh ninh rằng quyển Chơn lý BCĐ ắt sẽ đưa chú tiểu Tăng trở về với thực tế của đời sống tu tập và hành trì. Phán đoán trên chỉ đúng một nửa. Đúng. Chơn lý BCĐ nghiêng về đời sống tu tập Thân – khẩu – ý qua việc hành trì theo Pháp môn Giới – định – tuệ đặc thù của nhà Phật. Sai: Chơn lý không hề rời khỏi cảnh giới của những phạm trù triết học, cụ thể là việc truy nguyên nguồn gốc của mọi sự, mọi vật, mọi pháp, liên quan đến Bản thể luận, kể cả pháp BCĐ.

Chánh văn:

Bát chánh đạo không phải tự nơi ý người chế lập, mà vẫn sẵn có trong đời, bậc giác ngộ sau này mới nói chỉ ra đó thôi.

Nguyên lý hay giáo lý Duyên khởi được cho là sẵn có trong pháp giới càn khôn, bậc Chánh Đẳng Giác có xuất hiện trong đời hay không thì nguyên lý duyên khởi vẫn sẵn có; bậc Chánh Đẳng Giác chỉ chỉ bày cho người thế gian thấy mà thôi. Đối với giáo lý BCĐ, Chơn lý đã không nói rằng BCĐ vẫn sẵn có trong càn khôn vũ trụ mà chỉ chừng mực cho rằng BCĐ vẫn sẵn có trong đời. Nói như vậy là ngầm chỉ ra rằng BCĐ có nguồn gốc từ trong đời, và làm cho người đọc cảm thức rằng BCĐ gần gũi và liên quan với con người, với xã hội loài người hơn là với đất trời vũ trụ. Quả vậy, trong khi Duyên khởi là nguyên lý trung tính, không hàm chứa màu sắc thiện hay ác, chánh hay tà; tự nó không chứa đựng yếu tố thăng hoa hay sa đọa của đạo đức học, thì BCĐ đã chứa đựng lời nói từ ái của chánh ngữ, tâm thái thương yêu và sáng suốt của chánh tư duy, hành động mang lại lợi lạc cho tha nhân của chánh nghiệp... và đầy đủ những yếu tố làm tâm hồn con người vốn có khuynh hướng sa đọa được thăng hoa vào cảnh giới của bậc Hiền, bậc Thánh. Đó là những vị Thánh đúng nghĩa bằng chính thân – khẩu – ý của mình, bằng chính tấm lòng từ bi vô giới hạn, trí tuệ viên dung vô ngại, chứ không phải thông qua sự tung hê của một định chế và đã làm lợi ích cho định chế đó. Đây chính là điểm hấp dẫn của đạo Phật đối với nền văn minh phương Tây và những hệ tư tưởng phương Tây, một nền văn minh và những hệ tư tưởng từ lâu đã mệt mỏi vì "cái của tôi thì tốt".

Chánh văn:

Như chúng ta thấy không gian có khí, trong khí có nước, trong nước có đất, trong đất có lửa. Lửa thổi phù lên, nước đất cuốn tròn thành bọt. Bọt thủy tinh hay là quả địa cầu, khi nổi khi xẹp, vốn sẵn là cái “có” ở nơi “không”.

Đoạn chánh văn trên đây khiến cho người đọc nhớ tới đoạn chánh văn tương tự ở Chơn lý “Võ Trụ Quan”: "Quả địa cầu gồm có bốn chất là: đất, nước, lửa, gió, tức là cái Có, ở nơi Không. Kìa ta thấy trong không có hơi, trong hơi có nước, trong nước có đất, trong đất có lửa, trong lửa có gió, gió là hơi. Bốn thứ ấy nương sanh lấy nhau, làm thành cái Có ở trong cái Không, còn cái Không ở trong cái tự nhiên. Tự nhiên là hết nói luận! Đó là nói về sự, còn về lý thì cái Không ở trong mỗi cái Có, cái Tự nhiên ở trong mỗi cái Không." Như vậy, Chơn lý nhất quán trong nhận thức về có và không, nhất quán trong quan điểm về nguồn cội của sự sống.

Cụm từ "Cái có ở nơi không" gợi lên một dạng có và không mang sắc thái trừu tượng, siêu hình, phi vật thể. Đến khi nói "trong không có hơi" thì cái có đã rời khỏi thế giới siêu hình trừu tượng mà đi vào thế giới vật chất cụ thể. Đến đây thì không cũng không còn là không ngơ, vì nó chứa cái có cụ thể. Và, khi nói "trong không có hơi" thì đã xác định hơi là hình dạng đầu tiên của cái có, xuất phát từ cái không. Xin nói thêm ở đây một chút, trong nền triết học Đông phương, đại diện là triết học Ấn Độ cổ đại, loại vật chất đầu tiên không phải là hơi, hay khí, mà là nước. Thú vị là ở điểm xuất phát đầu tiên của sự sống thì triết học Đông Tây có chỗ tương đồng với nhau. Khoa học thì lại cho rằng loại đơn bào đầu tiên xuất hiện ở trong nước.

Trở lại đề tài có và không, trong một số quan điểm triết học hay luận lý học Tây phương, biên giới giữa cái không và cái có hay biên giới từ cái không sang cái có là một bức tường kim cang bất khả xâm phạm. Không là không, có là có, chứ không có chuyện cái không chứa đựng cái có, cái có có sẵn cái không. Trong Chơn lý bức tường kim cang này mờ nhạt và không có thực chất. Tất cả nằm trong một chỉnh thể duy nhất, bất khả phân lập. Chơn lý có một dạng ngôn ngữ triết luận ảo diệu: Cái có ở sẵn nơi cái không đó là nói về sự; ngược lại, cái không ở sẵn nơi cái có đó là nói về lý. Nói như vậy là sự và lý đồng đẳng với nhau, chẳng qua là hai mặt của một chỉnh thể. Điều này rất gần với dạng triết học Nhất nguyên, xem vũ trụ là một chỉnh thể duy nhất và tạm gọi chỉnh thể đó là cái Một.

Từ một góc nhìn, người ta thấy Không chỉ là một điểm xuất phát nào đó, mơ hồ và siêu hình; Có là sum la vạn tượng, sơn hà đại địa, là vũ trụ càn khôn, rõ ràng và hữu hình. Nói cách khác, Không là nhỏ, Có là lớn. Từ một góc độ khác, không là vĩ đại, Không tạo tác ra tất cả, là chỗ trở về của tất cả; không bao trùm có; cái Có có giới hạn, cái Không không có giới hạn. Nói cách khác, Không là lớn, Có là nhỏ. Nhìn qua lăng kính Chơn lý, có chỗ người đọc thấy Không và Có đồng đẳng với nhau, nằm sẵn trong nhau, không rời nhau.

Tuy nhiên, Chơn lý vẫn nghiêng về sự vĩ đại của cái Không, tính trùm chứa của cái Không. Ngài Đệ nhị Tổ Giác Chánh đã cảm khái, tâm đắc điều này và thường nói: "Không là bà mẹ sinh ra tất cả, chỗ trở về của tất cả". Như vậy, cái không nằm đằng sau cái có, cái không là nền tảng của cái có. Đến đây, một câu hỏi triết học có thể nêu lên: Cái không có phải là thực tại tối hậu hay không? Chơn lý trả lời: Không. Cái không tuy nằm đằng sau, làm hậu cảnh có vẻ rất sâu xa cho cái có. Nếu đem so sánh với tất cả các duyên tạo ra cái có, hay một cái có cụ thể, một pháp nào đó thì cái không với vai trò là một duyên để cái có xuất hiện thì có vẻ đó là cái duyên sâu thẳm nhất so với những cái duyên mà chúng ta có thể thấy. Nhưng cái Không theo Chơn lý thật sự không phải là cái duyên sâu thẳm nhất, cái duyên tối hậu, có khi được nói gọn là "cái tối hậu".

Những tôn giáo độc thần quy cái tối hậu vào nơi một vị thần sáng tạo, ở đây, chúng ta xem Chơn lý quy cái tối hậu về nơi đâu. Chơn lý nói: "Cái không ở trong cái tự nhiên". Như vậy, theo Chơn lý, cái tối hậu là cái tự nhiên. Chơn lý đã trung thành với truyền thống Đông phương. Lão Tử đã từng đại diện cho truyền thống này và tuyên bố: "Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp tự nhiên". Tự nhiên theo Chơn lý là "hết nói luận", đạo của Đông phương cũng hết nói luận vì "đạo khả đạo phi thường đạo".

Chánh văn:

Về lý sanh tử chỉ rằng: Cái sống là có, cái chết là không, vẫn tuần tự luân chuyển nương sanh lấy nhau mãi mãi, ví như cái không là sự sống, sanh nở ra khí, khí sống tượng ra nước, nước sống thành hình đất, đất sống mọc lên cỏ, cỏ sống vượt lên cây, cây sống sanh ra thú, thú sống tập thành người, người sống học thành trời, trời sống bước đến Phật, đến Phật là chết trở lại không (là không xác thân), cái không ấy lần lần sống lại, nảy nở sanh sản rồi chết nữa, rồi lại sống nữa, sống chết tự nơi nó. Sống rồi chết, chết rồi sống; có đến không, không đến có, chẳng đầu đuôi.

Chơn lý xem có và không, sống và chết, và những điểm mốc trung gian từ sống đến chết, từ chết đến sống là một vòng tròn không có khoảng hở, không có điểm khởi động, không có điểm kết thúc. Và vì vậy, dĩ nhiên không có bóng dáng của một vị sáng tạo nào, ở bất cứ một vị trí nào, hay một thời gian nào, trên cái vòng tròn này. Sự phát triển của nhiều ngành khoa học, triết học ngày nay rất có thể đã đạt đầy đủ mức độ tinh tế để nhận ra tính liên tục không gián đoạn, không đầu đuôi của sự vận hành này.

Chánh văn:

Tiếng Phật đây là sự diệt độ dứt bỏ cái có, cái sở chấp hữu vi, chớ không phải một vị Phật nào. Nơi đây chỉ về danh từ giáo lý Phật, ai đạt được thì gọi người ấy đắc quả Phật vậy.

Quan niệm về Đức Phật đã phát triển từ Đức Phật lịch sử qua một chặng đường dài đến Đức Phật siêu hình trong thế giới triết học và Đức Phật tín ngưỡng trong dân gian. Điều thú vị ở đây, người đọc gặp một Đức Phật trong Chơn lý, một Đức Phật không triết học siêu nhiên mà cũng không quá dân gian. Đức Phật của Chơn lý là "sự diệt độ, dứt bỏ cái có, cái sở chấp hữu vi", một Đức Phật của trạng thái và của hành động. Trạng thái ở đây là trạng thái diệt độ, hành động ở đây là hành động dứt bỏ, đối tượng của sự dứt bỏ là cái có và "cái sở chấp hữu vi". "Cái sở chấp hữu vi" có thể hiểu là cái sở chấp về cái có. Một lần nữa người đọc thấy Chơn lý không xem việc thành Phật là một quá trình dài
a-tăng-kỳ kiếp và trải qua tám mươi mốt cái nạn của Đường Tăng mà đơn giản là diệt độ, dứt bỏ cái có, cái sở chấp về cái có.

Chánh văn:

Bậc Phật sau khi bỏ xác thân thì còn tâm cho nên cũng gọi là có và sống mãi. Chính tâm là cái có, do thân nung đúc để lại, còn thân chết kia lại biến sanh thân vật khác nữa.

Đọc thoáng qua thì người đọc có cảm giác rằng Chơn lý xem tâm còn mà thân mất, xem lại thì thân không mất mà vẫn tiếp tục ở nơi "thân vật khác". Thật ra, Chơn lý đã khéo léo kết hợp những giá trị khác nhau của thân và tâm. Thân là cái có giá trị nung đúc cho tâm, tâm là cái có giá trị bền dài gìn giữ những gì mà thân nung đúc được.

Mặc khác, quan điểm của Chơn lý về thân và tâm, theo người đọc, là rất "cận nhân tình", là quan điểm của hầu hết mọi người nghiêng về đời sống tâm linh, đời sống tinh thần, không xem trọng vật chất. Quan điểm này quả là một liều thuốc giải cho thời đại ngày nay, một thời đại nặng nề vật chất, sa đà vào vật chất. Hầu hết tinh lực của giới trẻ đều bị đem đầu tư vào việc làm sao có được vật chất ở một mức độ cao nhất và hưởng thụ vật chất ở một mức độ cao nhất. Đời sống tinh thần hay tâm linh đương nhiên trở thành thứ yếu.

Chánh văn:

Đoạn này để chỉ rằng: Lúc sống thì VẠN HỮU tiến lần đến chết. Lúc chết thì SỰ VÔ cũng tiến lần đến sống. Trong lúc CÓ hoạt động, thì trong lúc KHÔNG cũng ngầm hoạt động. Như vậy là chúng sanh vạn vật vẫn sống chớ không có chết, chỉ tạm đổi hình bóng phương tiện sở chấp bên ngoài đó thôi.

Bởi tại quan niệm của chúng ta, đang ở trong một cảnh giới CÓ nào đó, nên không thể hiểu biết được bề trái của sự sống, nơi cảnh giới KHÔNG bên kia. Cũng như một kẻ ở trong cái không và quyến thuộc, quyến thuộc không, tượng thành cái có lần lần, thì nó nói là chết mất rồi, không còn cái sống của không nữa. Vậy nên không và có, sống và chết, do sự nhận lầm của chúng sanh, đặt tên theo mỗi lúc chớ chẳng có chi là chết, là không cả. Cũng như kẻ kia nói: Người chết trong vật chất rồi! người chết trong tinh thần rồi! Vật chất người không có rồi! Tinh thần người không có rồi! Như thế nghĩa là: không có trong cái này, là có trong cái kia, chết trong cái này, là sống trong cái kia. Thế là vẫn có, vẫn sống, vẫn nảy nở, vẫn tiêu hoại; đổi lớp cũ máy hư mà sắm lần cái mới tương đối. Nhảy ra, nhảy vào, ẩn hiện, khi bên này, khi bên kia, như né tránh, như nhường đường.

 

Chơn lý tuy phân biệt giữa có và không rõ ràng, nhưng cả hai dựa trên nền tảng là có. Có và Không có nghĩa là có mặt hay không có mặt ở một nơi cụ thể nào đó, vì vậy Không ở đây không bao giờ có nghĩa là không hẳn hay không ngơ mà chỉ có nghĩa là tạm vắng mặt mà thôi. Người đọc cảm nhận một chút phảng phất của Nhất Thiết Hữu Bộ ở đây. Nhất Thiết Hữu Bộ là một trong những bộ phái Phật giáo có một thời phát triển mạnh mẽ và rộng khắp. Trong một giai đoạn lịch sử khá lâu dài, hầu hết những hoạt động tích cực nhất, những công trình lớn lao nhất về nhiều phương diện đều do những vị đạo sư Nhất Thiết Hữu Bộ khởi xướng và triển khai. Nói như vậy, người đọc không hề có ý nghĩ cho rằng những quan điểm nghiêng về hay đặt nặng về tính không của vạn pháp là tiêu cực, thụ động, không nhiệt huyết đối với việc hoằng dương Phật pháp, phổ độ nhân sinh. Một hình ảnh dễ thấy là đức Dalai Latma đời thứ 14 với nền tảng tư tưởng chủ đạo là tính không do Tổ Long Thọ xiển dương nhưng không thụ động chút nào. Ngược lại, mức độ tích cực và sức năng động, tâm kiên trì và chí miệt mài thì cả thế giới ngày nay đều ghi nhận. Nói chung, Có và Không là hai mặt của một thực thể duy nhất, khi nhìn cái gọi là thực thể duy nhất đó dưới dạng hình cầu năng động thì cũng khó mà nói đâu là biên tế vững chắc của Có và Không. Ngôn ngữ có giới hạn của nó, theo người đọc thì khi hiểu một cách tốt nhất những quan niệm về Có và Không thì những quan niệm đó không ảnh hưởng gì đến thái độ tích cực hay tiêu cực, thụ động hay năng động của một người tu.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan