CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Rạng ngời ánh giác ngộ

Thái tử Tất Đạt Đa (Siddhattha), dòng họ Thích Ca (Gotama), con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Maya. Ngài sống nơi cung vàng, điện ngọc, trong hạnh phúc ngọt ngào, có vợ đẹp, con xinh, vật chất đủ đầy. Thế nhưng, những lạc thú, vật chất ấy không đủ sức cuốn hút, quyến rũ thái tử ở mãi nơi vương quyền, ngay sau khi thái tử dạo bốn cửa thành. Thái tử chứng kiến cảnh già, bệnh, chết, trong cuộc sống thật mong manh, ngẫm nhìn cuộc đời không ai có thể thoát khỏi vòng lẩn quẩn sinh tử, tử sinh. Trong giây phút ấy, thái tử chợt nhớ lại hình bóng của vị đạo sĩ với dung mạo uy nghiêm, bước đi thanh thoát, đời sống an nhàn… Những hình ảnh ấy mãi hiện lên trong A-lại-da thức của thái tử, gợi cho thái tử phải tìm cách trả lời cho câu hỏi lớn và vô cùng hóc búa về sự thoát khỏi khổ đau, luân hồi trong kiếp sống vốn không có hạnh phúc chân thật này.

Câu hỏi ấy cứ dần theo tháng ngày trôi, song trong tâm thức thái tử vẫn luôn trăn trở tìm kiếm lời giải đáp hoàn mỹ, đây không còn là câu hỏi cho riêng Ngài, mà nó còn là câu hỏi chung của toàn thể nhân sinh. Ngài cảm nhận cuộc đời:

Đến nhìn cuộc đời này

Như vương xa rực rỡ

Bao kẻ ngu chìm đắm

Người trí chẳng mê say”

(Pháp Cú, 171)

Sau khi tìm nhiều cách trả lời và suy tư về câu hỏi này, song cuối cùng ngài không thể giải quyết được, nên vào một đêm tối mịt trời, thái tử quyết định vượt thành Ca Tỳ La Vệ, quyết chí tìm cầu chân lý, giải thoát rốt ráo. Thái tử bắt đầu cuộc hành trình không nhà, lang thang tìm đạo khắp lưu vực sông Hằng và tìm Thầy học đạo ở các vị nổi tiếng như Alàra, Kalàma hoặc Uddaka Ramaputta, sáu năm tu khổ hạnh với năm anh em Kiều Trần Như, nhưng rồi thái tử vẫn không thấy được mục đích tối thắng, sự an lạc, thanh thoát nơi chính mình, nên thái tử quyết định từ giã ra đi, Ngài nhận thấy phương pháp khổ hạnh, tuyệt thực không phù hợp nữa nên đã thọ nhận bát sữa cúng dường của Sujatà để phục hồi sức khoẻ. Thế là ngay sau đó, vào một đêm tối, thái tử đã quyết định ngồi kiết già tại gốc cây Bồ Đề và tuyên thệ rằng: “Dù cho thịt nát xương tan, nếu không thành đạo, ta thề không rời khởi chỗ này”.

Lời thề nguyện đã thúc đẩy thái tử tinh tấn, dõng mãnh trong sự hành trì thiền định. Với sự bền chí trong suốt 49 ngày đêm, thái tử đã đạt được sự thành công tối thượng. Khi sao Mai vừa ló dạng, thái tử đã đạt được đạo quả vô thượng Bồ Đề, Ngài đã chứng được tam minh lục thông, với tâm giải thoát, tuệ giải thoát, và trở thành bậc giác ngộ hoàn toàn, đó chính là quả vị Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Kể từ ấy, ánh sáng tuệ giác xuất hiện, màn vô minh đen tối đã xé toang, ngọn đèn chân lý soi sáng cho câu hỏi lớn về sự khổ đau của nhân sinh. Ngài đã tìm ra bản chất thực sự của cuộc sống, của chính bản thân Ngài và hiểu rõ bản chất về sự khổ đau của nhân sinh.

Với sự thành công vô thượng, lợi ích vô cùng, an vui vô tận, bậc giác ngộ Đẳng Chánh Giác liền nói lên bài kệ:

Lang thang bao kiếp sống

Ta tìm nhưng không gặp

Người xây dựng nhà này

Khổ thay phải tái sinh.

Ôi! Người làm nhà kia

Nay ta đã thấy ngươi

Ngươi không làm nhà nữa

Đòn tay ngươi gãy rồi

Kèo cột ngươi tan nát

Tâm ta đạt an ổn

Tham ái thảy tiêu vong

(Pháp Cú, 153-154)

Trong bài kệ vui mừng sự Thành đạo của bậc giác ngộ Thích Ca Mâu Ni, Người khai sáng cho chúng sinh biết “Người xây dựng” ngôi nhà tham ái, vô minh, dục vọng này chính là sự hợp thành của cái tôi - bản ngã, chính sự tham ái chấp thủ, vô minh tham đắm đã đẩy chúng sinh trôi lăn trong sinh tử luân hồi. Ngài cũng dạy chúng sinh biết rõ với năng lượng của sự thực tập thiền quán, với tuệ giải thoát hoàn toàn, mới đủ sức đập vỡ những bức tường thành vô minh, tham ái kiên cố, vững chắc qua bao kiếp sống luân hồi của chúng sinh:

“Đêm dài cho kẻ thức

Đường dài cho kẻ mệt

Luân hồi dài kẻ ngu

Không biết chơn diệu pháp”.

(Pháp Cú, 10)

Vì thế, Ngài dạy những ai muốn thoát khỏi khổ ưu:

Hãy luôn nhiệt tâm làm

Như Lai chỉ tuyên thuyết

Người hành trì thiền định

Thoát trói buộc ác ma”.                

(Pháp Cú, 276)

Lời tuyên thuyết này đánh dấu bước ngoặc vĩ đại trong xã hội đương thời. Ngài hoàn toàn chiến thắng được ma vương, ma quân, chiến thắng mọi vô minh, tham ái trong dòng sinh tử luân hồi. Với tuệ giác và lòng từ bi vô hạn của bậc giác ngộ, bậc Thiên Nhân Sư, Ngài bắt đầu hành trình thắp sáng ngọn đèn chánh pháp trước tiên đến nhóm ẩn sĩ năm anh em Kiều Trần Như qua bài kinh Chuyển Pháp Luân. Nội dung bài kinh mang tư tưởng thật sâu sắc, mà từ trước chưa từng ai nói đến, đó chính là phương pháp tránh xa hai cực đoan (i) khổ hạnh ép xác và (ii) hưởng thụ dục lạc, và thực hành theo lý Trung đạo, con đường Bát Thánh Đạo hay còn gọi là con đường của tam vô lậu học gồm Giới, Định và Tuệ. Ba pháp học này cùng nằm trên một quỹ đạo, nó sẽ đưa hành giả hướng tới chân hạnh phúc. Ai muốn đạt đến hạnh phúc chân thực cần phải chứng nghiệm về nó. Giới-Định-Tuệ giống như kiềng ba chân, luôn gắn liền và hỗ trợ nhau. Khi có Giới thì Định được tu tập dễ dàng, có Định thì Tuệ được phát huy, và khi có Tuệ sẽ soi sáng bước chân hành giả đến con đường tìm về chân hạnh phúc. Đây chính là con đường chánh mà trong suốt 49 ngày đêm thiền định tại cội Bồ Đề, đức Phật đã thành tựu được đạo quả vô thượng Bồ Đề, thành bậc giác ngộ, có khả năng tự độ, độ tha và tự giác, giác tha. Sự giác ngộ này sẽ còn lan toả mãi nếu ai thực tập theo con đường Bát Chánh này:

Nếu ngươi theo đường này,

Ðau khổ được đoạn tận.

Ta dạy ngươi con đường.

Với trí, gai chướng diệt.

(Pháp Cú, 275)

Đây là pháp tối thắng đưa đến chân hạnh phúc, và đây chính là chìa khóa để trả lời cho câu hỏi lớn về sự khổ đau, trong kiếp luân hồi khổ đau vô tận của chúng sinh. Với hạnh nguyện khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến của Phật, nên trong suốt 45 năm hoằng Pháp, Ngài luôn dạy và khuyến tấn tất cả đệ tử trong mọi tầng lớp, giai cấp, thực tập theo con đường Trung đạo, nỗ lực tinh cần trong thiền định, với sự phát triển chánh kiến, chánh tư duy, chúng ta sẽ phát triển tuệ giác hoàn toàn, khi ấy ta đủ khả năng phá tan các kiết hoặc, tư hoặc, lậu hoặc, cũng như các dục vọng, tham ái, đồng thời cũng hiểu rõ bản chất duyên sinh của vạn pháp, của nội tâm, cũng như hiểu rõ về Tứ Thánh Đế:

Thấy khổ và khổ tập

Thấy sự giải thoát khổ

Thấy Thánh đạo tám ngành

Đưa đến khổ não tận

(Pháp Cú,191)

Với ánh sáng tuệ giác, đức Phật - bậc khai sáng chân lý thoát khổ cho chúng sinh, Ngài đã thắp lên ngọn đèn chánh pháp, chiếu soi năng lượng tuệ giác cho khắp nhân sinh. Năng lượng này có được là nhờ vào sự nỗ lực tinh cần trong quá trình thiền định theo con đường trung đạo. Do vậy, trong kinh Đại Niệm Xứ thuộc Trường Bộ Kinh, đức Phật nhắc nhở chúng ta, hãy tinh tấn thực hành chánh định vì “Đây là con đường độc nhất, thanh tịnh cho chúng sinh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ niết bàn”. Đây là con đường chơn chánh duy nhất mà bậc đạo sư đã khai sáng cho nhân sinh, nên bất kỳ hành giả nào đi trên lộ trình ấy, chắc chắn sẽ tìm được chân hạnh phúc.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết:

Các bài viết liên quan