CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Tinh thần thị hiện đản sanh của đức Phật

 Đã 2632 năm qua, nơi xứ Ca-tỳ-la-vệ thuộc nước Nepal ngày nay, một con người xuất hiện để lại một dấu ấn cho nền văn minh Ấn Độ và cũng đã giúp cho sự tiến bộ của loài người trên thế giới. Thái tử Sĩ-đạt-ta đã có mặt nơi nhân gian thông qua thai mẹ, để hoàn thành sứ mạng của mình: Xuất gia, thành tựu trí tuệ, hóa độ và nhập Niết-bàn. Thành tựu trí tuệ của Đức Phật không do sự học thuộc lòng, không phải do tích chứa của ký ức, không do đúc kết kinh nghiệm theo hiểu biết thế gian v.v… mà đó là do kinh nghiệm tự thân chứng, trải qua bốn mươi chín ngày nhập định, từ đó đưa đến: Túc mệnh minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh. Đây là những điểm cốt yếu của đời sống tu hành mà người con Phật đã và đang hướng tới.

Ba cõi không yên như ngôi nhà lửa, không nơi nào chúng ta có thể dừng lại; với tinh thần “vì lợi ích, vì an lạc cho số đông, vì an lạc vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người”, Đức Phật đã không ngại gian lao du hành qua các xứ như: Ba-la-nại, Vương Xá, Xá-vệ ... Ngài luôn thuyết giảng về khả năng giác ngộ nơi tự mỗi người và khuyến khích chúng sanh tu tập, bởi vì mỗi người đều có khả năng giác ngộ như Ngài.

Hình ảnh Bồ-tát Hộ Minh với voi sáu ngà từ cung trời Đâu Suất hiện xuống, ấy là hình ảnh của một vị hành giả đi vào cuộc đời bằng sáu độ Ba-la-mật: Bố thí, trì giới, an nhẫn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.

Hành giả thực hiện con đường giác ngộ luôn lấy sự thí xả làm đầu. Từ địa vị Thái tử đầy quyền uy, Ngài xả bỏ vào chốn rừng sâu, không một thứ gì để chở che thân mạng; với của cải tài sản đầy đủ, ngài đã để lại cho mọi người, chấp nhận một đời sống khất sĩ thanh bai; cha mẹ, vợ con, họ hàng quyến thuộc, ngài đã chấm dứt mãnh liệt, vượt dòng sông A-nô-ma để ra đi tầm đạo.

Với giới luật bậc Thánh, Ngài đã thị hiện gìn giữ trọn vẹn không tỳ vết trong đời sống của mình, như nương phao nổi để qua sông; dù ai đó chỉ xin một lỗ nhỏ tựa mũi kim cũng nhất mực chối từ. Thể hiện tánh tướng viên dung qua từng cử chỉ, lời nói, việc làm, ý nghĩ, đều luôn trong chánh niệm tỉnh giác.

Ngài luôn an nhẫn với hoàn cảnh chung quanh, thời tiết, muỗi mòng, những dục vọng nội tại, Ngài đã an nhẫn dẫn tâm đi sâu vào chánh định vững vàng, thấy rõ chân tướng của ma vương và các pháp, Ngài nhẹ nhàng vượt qua sự uy hiếp của muôn loài quỷ dữ để tiến tới đạo quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Do sự tinh tấn trong chánh niệm tỉnh giác, nên những điều ác chưa sanh không có chỗ để sanh, những ý nghĩ ác đã có từ vô thủy được an tịnh, những thiện pháp chưa sanh nay lần lượt phát sanh trong chánh niệm, những thiện tâm đã hiện hành ngày càng sáng chói tăng trưởng.

Chánh niệm tỉnh giác luôn hiện tiền, nên nỗ lực quán về thân, thấy rõ bản chất của thân, thấy rõ bất tịnh, vô thường giả hợp của thân. Quán sát về các cảm thọ, thấy rõ bản chất của thọ nương theo thân chứa đầy khổ não, vui ít khổ nhiều, khi biến mất khổ lại càng nhiều hơn. Quán sát về tâm, thấy tâm qua lại bản chất như khỉ vượn, vô thường không thể dừng trụ. Từ đó nhìn về các pháp, thấy rõ bản chất các pháp chỉ là duyên sanh giả hợp, có đó, không đó, chẳng có chủ tể, chẳng hề có tác giả, chẳng có cái gì gọi là ngã ở trong đó.

Nguồn trí tuệ phát khai, như sao mai mọc lúc bình minh, Ngài thấy rõ sự hiện hành của các pháp, hiện tượng của hữu vi, biết rõ các pháp đan xen, nhân duyên, kết tụ, rã tan, chuyển xoay, qua lại, lên xuống … tất cả đều thấy rõ, biết rõ như quan sát trái a-ma-lặc trong lòng bàn tay.

Sự thị hiện đản sanh bảy bước với hoa sen nâng chân là thể hiện trí tuệ Phật vượt hẳn không gian của vũ trụ, thời gian của trái đất lăn quay, không bị hạn cuộc, không bị trói buộc bởi bất cứ một pháp nào, không có phân chia ranh giới ngằn mé… Trí tuệ Phật vượt hẳn bảy cái thức của phàm phu, hiểu biết nương nơi xác thân mà hiện thể; vượt qua bảy đại: địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến, thức hằng bị chi phối bởi sanh, trụ, dị, diệt. Cho nên “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”.

ducphat34Thời gian đức Phật tại thế đã làm sáng tỏ sự thị hiện của Ngài đối với chúng sanh. Ngài đã hình thành một Giáo hội, một đoàn thể từ bỏ gia đình, sống không gia đình, từ bỏ quyền lợi, từ bỏ tình cảm thế gian, bước chân vào đời sống phạm hạnh, hướng tới sự giải thoát, đưa đến chánh trí.

Ngài xây dựng nhân cách con người qua cách sống của Ngài, Ngài rèn luyện con người qua lời giáo huấn và Ngài đã giúp nhiều vị đệ tử chứng quả ngay trong hiện tại. Như vậy, đó là sự lợi ích thiết thực cho chúng sanh, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh. Hạnh phúc ấy, an lạc ấy không dựa vào vật chất, tài sản, địa vị, tình cảm… của đời thường, mà hạnh phúc ấy chính là sống trong trí tuệ giác ngộ của chính bản thân của mỗi hành giả. Cái biết của trí tuệ giác ngộ là cái biết thực sự vượt trên sự suy đoán, ước lượng, tích tập bằng giác quan con người. Cái biết ấy, biết tất cả các pháp mà các pháp chẳng bao giờ biết nó. Được thể hiện qua con mắt thịt của thân, phân biệt các hình tượng gọi là nhục nhãn; thấy rõ vượt qua khoảng cách không gian gọi là Thiên nhãn; biết rõ ba thời của các pháp gọi là Huệ nhãn; biết rõ tất cả pháp do nhân duyên hiện hữu là Pháp nhãn; giác biết tột cùng không bị trói buộc, không hệ lụy, không lầm lẫn gọi là Phật nhãn. Từ đó, người con Phật sống trong trí tuệ Phật, vượt hẳn mọi sự hiểu biết thấp hèn của thế gian, vượt hẳn sự suy lường của mọi pháp. Lấy nơi đây đem ra chỉ lại cho mọi người, đưa tất cả lên bờ giải thoát.

Cho nên những ngày trụ thế của đức Phật, từ xứ Ba-la-nại, Vương Xá, … nơi nào có dấu chân của Đức Phật thì xứ đó yên bình, vua tôi hòa thuận, dân chúng hưởng được hạnh phúc an lạc. Những vị vua như Ba-tư-nặc, Tần-bà-sa-la… đều lấy đạo Phật làm chính đạo, trị dân, lấy đạo đức giác ngộ làm đầu. Vua A-xà-thế tuy nghe lời của Đề-bà-đạt-đa làm ác, nhưng cuối cùng do sự cảm hóa của Đức Phật cũng đã trở về với đức Thế Tôn để học đạo và trị dân bằng giáo pháp bình hòa.

Ngày nay chúng ta sống trong thế giới tri thức, một thế giới điện tử, nhưng sự hiểu biết ấy cũng chỉ là sản phẩm của thức biến hiện, cũng vẫn dựa vào ý nghiệp để hiện hành. Cho nên bản chất của chúng vẫn là nguồn gốc của tham sân si và dễ đưa con người tới sự tăng thượng của tham sân si, đưa con người tới khổ não, chớ chẳng phải là trí tuệ Phật.

Giáo hội chúng ta dựa trên nền tảng giáo lý của Đức Phật, kế thừa sự nghiệp của Đức Phật, thì trí tuệ Phật là mấu chốt để cho chúng ta xây dựng con người hiện tại. Điều này đòi hỏi chính mỗi chúng ta cũng phải luôn mang trên vai tinh thần lục độ Ba-la-mật, thể hiện trí tuệ Phật qua sự cảm hóa quần chúng, đưa quần chúng đến gần trí tuệ Phật, vượt qua tham sân si của đời thường, mới thể hiện được tính xây dựng Giáo hội Phật giáo tốt đẹp cho hôm nay và mai sau.

Những thành viên của Giáo hội sống trong trí tuệ Phật luôn thị hiện cuộc đời mình vào xã hội, thể hiện trí tuệ vào cuộc sống ngay nơi mỗi trú xứ của các thành viên, hướng dẫn quần chúng hướng tới chân thiện mỹ, làm cho mọi người chung quanh hiểu rõ được trí tuệ giác ngộ. Sống trong ấy, tự họ đoạn trừ tham sân si và ngay đó họ sẽ có an lạc, có hạnh phúc nơi cuộc đời này. Với cách sống này, chúng ta đã góp phần xây dựng xã hội, xây dựng đất nước một cách toàn hảo nhất.

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: