CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !

Đức Phật và những ý pháp thị hiện độ sinh

 1. Ý Pháp Thị Hiện Đản Sinh

       Trong Tăng Chi Bộ Kinh, Chương XIII, Phẩm Một Người, bài kinh Như Lai, Đức Phật đã dạy: “Một người, này các Tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số,vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai ? Chính là Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.”

       Và trong một đoạn Kinh kế tiếp, Đức Phật cũng đã nhấn mạnh: “Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang bằng, bậc tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai ? Chính là Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.”

        Như chúng ta đã biết, Đức Phật thị hiện vào đời như mọi người. Ngài là Thái tử Sĩ Đạt Ta (Siddattha), con Vua Tịnh Phạn (Sudhodana) và Hoàng hậu Ma Gia (Maya), trong triều đình thuộc dòng họ Thích Ca (Sakya). Lớn lên, Ngài được Vua cha cho thọ học văn võ song toàn và đến tuổi trưởng thành, Ngài cũng được Vua cha và triều đình  quyết định tổ chức cho lập gia đình như mọi Thái tử khác trong nhân gian. Nhưng có những điểm hết sức đặc biệt mà ở những con người thông thường không hề có được, đó là:

    Thứ nhất – Hoàng hậu Ma Gia thọ thai Ngài sau khi nằm mộng thấy voi trắng sáu ngà khai hông bên hữu mà vào; và khi chào đời, Ngài cũng từ hông bên phải Hoàng hậu mà ra khi bà vừa đưa tay vói hái cành hoa Vô Ưu  tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini).

    Thứ hai  –  khi vừa chào đời, Ngài đã có thể bước đi bảy bước và ngay dưới chân Ngài trong khoảnh khắc kỳ diệu đó xuất hiện:

Bảy đóa Sen vàng nâng gót tịnh

Ba ngàn thế giới đón Như Lai”

Đồng thời, điều kỳ diệu thứ hai đã  đến, khi từ kim khẩu Ngài vang lên pháp âm vi diệu mà bất kỳ đứa trẻ nào khác trong đời không thể nào có thể có được:

Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn

Vô lượng sinh tử, ư kim tận hĩ.”

    Những điểm đặc biệt  trên cho chúng ta thấy sự Đản sinh vào đời của Bồ tát Hộ Minh không phải là sự vào đời thông thường mà đúng là sự Thị hiện kỳ diệu như Ngài đã dạy trong bài Kinh Như Lai “Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người vi diệu. Một người ấy là ai ?  Chính là Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.”

2. Ý  Pháp Thị Hiện Xuất Gia

      Tuy được sinh ra và lớn lên trong Hoàng cung, với đời sống của một Thái tử, đầy cao sang sung sướng, với sự thương yêu, nuông chìu, chăm sóc của Vua cha và Hoàng cung, nhưng Thái tử Sĩ  Đạt Ta không hề say mê đắm nhiễm trong ái dục, trong tình tiền danh lợi Ngài đang có… mà ngược lại,  trong lòng Ngài lúc nào cũng đầy khoắc khoải, ưu tư về cuộc sống nhân sinh. Một hôm, sau khi đi dạo bốn cửa thành, thấy rõ nỗi khổ của con người qua bốn cảnh sanh già bệnh chết trong đời và hình ảnh của vị Đạo sĩ; trong khoảnh khắc suy tư trầm lắng… nơi Ngài đã bừng lên ánh sáng chân lý; trong tâm thức Ngài đã nhận ra con đường thoát tục, một hướng đi khả dĩ có thể cứu độ chúng sinh như trong Kinh Trung A Hàm (Phần 1, Kinh Mahàsachaka, số 36) đã nêu:

    Cuộc sống tại gia rất tù túng chật hẹp, là chỗ ẩn náu của bụi trần ô trược, nhưng đời sống của bậc xuất gia quả thật là cảnh trời mênh mông bát ngát! Người đã quen với nếp sống gia đình ắt thấy khó mà chịu đựng. Đời sống Đạo Hạnh thiêng liêng với tất cả sự hoàn hảo và trong  sạch của nó.”


    Một hôm, thời khắc kỳ diệu đã đến, giữa đêm ngày mùng 8 tháng 2 năm Ngài 19 tuổi (theo thuyết Nam tông Nguyên thủy Phật giáo ghi nhận năm đó Ngài 29 tuổi) Ngài thăm lại thư phòng, lần cuối Ngài vén màn nhìn Công chúa vợ hiền Da Du Đà La (Yasodhara) và đứa con yêu Hoàng tử La Hầu La (Rahula) đang yên giấc đêm xuân… rồi lặng lẽ từ biệt, Ngài cùng Xa Nặc (Channa) cưỡi ngựa Kiền Trắc vượt sông A Nô Ma (Anoma):Hoàng cung bỏ lại sau lưng,

Vầng trăng mộng ảo mông lung đêm dài.

Quyết đi thoát khổ trần ai,

Quyết đi  dựng lại tương lai cho đời.

Quyết đi tìm lại niềm vui,

Niềm vui giải thoát độ người thiện duyên.

3. Ý Pháp Thị Hiện Chiến Đấu, Chiến Thắng Ma Quân & Thành Đạo

    Được sinh ra làm người, được sống trong cuộc đời mà nhận chân được giá trị thực của cuộc sống với những vui buồn, mừng giận, ảo thực, có không, được mất… quả thật không phải là điều dễ chút nào! Nhưng một khi đã nhận chân cuộc sống, biết vạch ra cho mình một định hướng, một cách sống đúng chân lý và giữ gìn cách sống đó một cách kiên định cho đến khi đạt được mục đích thì lại càng vô cùng khó khăn!

    Thái tử Sĩ Đạt Ta đã dựng lập chí nguyện xuất gia, vượt bỏ Hoàng cung, từ bỏ mọi nếp quen trong đời sống của thế gian, đi vào rừng thẳm, với quyết tâm tìm đạo, học đạo, tu tập. Nhưng trên đường đi tìm cầu chân lý, không biết bao nhiêu là gian lao thử thách chờ đón Ngài. Từ thời tiết, ngoại duyên… sự thử thách vô cùng ác liệt của nắng gió, mưa sương, đói lạnh của núi rừng cô tịch; đến sự quấy nhiễu hung tợn của ác quỷ, ma vương; nhất là sự đối diện thử thách cùng cực của nội tâm  - những tham sân si, những thất tình lục dục, vui buồn mừng giận thương ghét muốn, những tình cảm sâu lắng tìm ẩn trong nghiệp thức từ vô lượng kiếp, tiếp nối nhau hiện lên quậy phá. Trong Kinh Pháp Cú, Phẩm Tự Ngã, câu 63, Đức Phật dạy:

“Dễ làm các điều ác

Dễ làm điều tự hại

Còn việc lành việc tốt

Thật tối thượng khó làm.”

   Làm người Phật tử chân chính trong giáo pháp, dù tại gia hay xuất gia, chúng ta đều phải nỗ lực tinh tấn tu hành, điểm trọng yếu là vượt qua chính mình. Bởi trong thực tế, giặc ngoài dễ thắng, nhưng giặc trong lòng thì rất khó thắng. Trong đời sống thường nhật, người tu phải vượt qua mọi thử thách, mọi chướng duyên bên ngoài để đạt đến sự an tịnh của tâm hồn. Cho nên, một khi chúng ta giữ được sự an tịnh của tâm hồn rồi, thì tức khắc mọi thử thách, mọi chướng duyên bên ngoài đều trở thành như không có chung quanh chúng ta.

Đức Phật đã thị hiện tướng xuất gia, hễ người tu thì phải dũng mãnh cắt đứt mọi ràng buộc bên ngoài, dù đó là ngai vàng, điện ngọc, vợ đẹp, con yêu; khi đã rời xa, cắt đứt chướng duyên  gia đình rồi thì bước nối tiếp thứ hai là  chúng ta phải có đầy đủ dũng khí  - một mình một thân can đảm dấn thân vào rừng sâu núi thẳm, chỉ một mình đối diện với sự quạnh hiu cô tịch. Bấy giờ mình chiến đấu với ma vương ác quỷ; vậy thì ma vương ác quỷ đây là ai ? Nó chính là tham sân si, là vui buồn mừng giận thương ghét muốn của tự tâm; đến khi nào mình chiến đấu và chiến thắng nó, tức là mình đến đích, mình thành đạo.

Sự thị hiện tinh thần chiến đấu và chiến thắng ma quân được ghi rõ trong đoạn kinh sau đây:

Namuci đó là quân đội của ngươi. Đó là khách luôn lưu trú bên trong hạng người xấu xa quỷ quái. Người nhút nhát ươn hèn thì không thắng nổi; nhưng ai chế ngự được những đạo binh ấy sẽ tìm ra hạnh phúc.

Ta cột trên ngọn cỏ của ta  chùm cỏ Munja. Đời sống trên thế gian này rõ là khốn khổ. Thà ta chết trên chiến trường còn hơn sống mà thất bại!

Kiểm soát chặt chẽ dòng tư tưởng và với chánh niệm kiên cố vững chắc, ta sẽ đi bất định từ nơi này đến nơi khác, rèn luyện  một số đông huynh đệ.

“Chuyên cần tinh tấn, quyết định và thực hành giáo huấn của ta  - không quan tâm đến ngươi  - những vị ấy sẽ đến tận nơi mà không còn đau khổ.”

Chính vì thế, khi chiến đấu và chiến thắng ma quân rồi, Đức Phật đã tuyên bố một cách hùng hồn:

“Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng[1] nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.

Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Người không làm nhà nữa.
Ðòn dông[2] ngươi bị gãy,
Kèo cột[3] ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.”

(Kinh Pháp Cú, Phẩm Già, 153, 154)

4. Ý Pháp Thị Hiện Chuyển Pháp Luân

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được gọi là Đấng Chánh Đẳng Giác và với các danh hiệu cao quý khác, là vì sau khi thành đạo, Ngài không nhập Vô dư Niết Bàn, mà ở lại cõi Ta-bà để hoằng dương Giáo pháp. Theo Đại Phẩm trong Luật tạng, sau một thời gian thành đạo, Phạm thiên Sahampati - đại diện cho vị trời tối cao của xã hội Ấn Độ đương thời thỉnh Ngài vận chuyển Pháp luân để những ai ít bụi trần trong mắt có thể thấy được pháp. Từ lời thỉnh cầu này, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đầu hướng tâm đến những vị có nhân duyên. Qua sự kiện này, chúng ta có thể đặt vấn đề, Đức Phật vì đại nguyện cứu độ chúng sanh ra khỏi khổ sanh tử, nhưng vì sao sau khi thành tựu đạo quả, Ngài lại không dấn thân hoá đạo liền mà có ý định nhập Vô dư Niết Bàn, chờ khi Phạm thiên Sahampati ba lần thưa thỉnh, Ngài mới nhận lời. Vậy Ngài quên mất đại nguyện thuở ban đầu và không có từ tâm đối với chúng sanh sao? Có phải chăng điều đó cũng là một trong những thị hiện của Đức Phật để thấy rằng giáo pháp của Đức Thế Tôn là cao quý vô lượng, là nhu cầu khẩn thiết của những người có trí, còn phần lớn chúng sanh trong cõi ta-bà ít có khả năng lãnh thọ giáo pháp.

Theo Đại Phẩm (Mahavagga), trong lưới nhân duyên quán, Ngài thấy rằng chỉ có nhóm năm anh em Kiều Trần Như đang ở Lộc Dã Uyển là những người có công đức lớn, có khả năng lắng nghe, hiểu rõ và hành trì giáo pháp để thành tựu Chánh trí. Dẫu vậy, trong năm thân hữu tu khổ hạnh thuở xưa, chỉ có tôn giả Kiều Trần Như mới có khả năng lãnh hội giáo pháp và chứng được pháp nhãn ly trần (sơ quả) sau khi nghe xong bài pháp đầu tiên, và chứng đắc thánh quả A La Hán sau khi nghe Đức Phật tuyên thuyết về bản chất của năm uẩn là vô thường, khổ não và vô ngã. Bốn vị còn lại thuận theo thời gian mà chứng đắc thánh quả. Cuộc đời hoằng pháp của Ngài gặp không ít những khó khăn do ngoại duyên và đôi lúc ngay chính những người học trò của Ngài, ấy thế mà Ngài vẫn từ dung và độ lượng hoá độ không từ bỏ một ai. Từ vua, quan, quý tộc cho đến dân dã, cùng đinh… kể cả những thành phần mà xã hội phải hãi kinh khi nghe đến tên như Angulimala hoặc những người buôn phấn bán hương như Liên Hoa Sắc, Ampabali, v.v… không thành phần nào không có trong Tăng đoàn của Ngài. Ấy thế mà Ngài vẫn thanh thản hóa độ tùy duyên không mệt mỏi. Đến cả giây phút trước khi nhập Vô dư Niết Bàn mà Ngài còn hoá độ cho Tu Bạt Đà La (Subhada) chứng đắc đạo quả.

5. Ý Pháp Thị Hiện  Nhập  Niết  Bàn

Thời gian trôi nhanh, 49 năm hoằng hoá (theo Nam truyền 45 năm) như chiếc xe mòn cọc cạch cũ kỹ đến thời tan hoại. Tại điện thờ Capala ở Vaisali, Đức Phật xả thọ hành, tuyên bố sau ba tháng nữa Ngài sẽ nhập Niết-bàn, mặc dầu với sự tu tập tứ thần túc viên mãn, lão luyện, thành thục đức Như Lai có thể duy trì thọ mạng một kiếp hay phần kiếp còn lại, nhưng theo lời thỉnh cầu của Ác ma, Đấng Như Lai đã xả thọ hành, khiến cho đại địa phải chấn động, sấm trời vang dậy (theo Kinh Đại Bát Niết Bàn, Trường Bộ Kinh). Tại sao Đức Như Lai phải nghe theo lời thỉnh cầu của Ác ma mà nhập Niết Bàn? Khi Ngài vừa chứng Vô Thượng Giác, Ác ma cũng xuất hiện và thỉnh cầu Ngài nhập Vô dư Niết Bàn, nhưng Đức Phật nào có hứa khả, chấp thuận, trong khi đó, sau 49 năm hoằng pháp, Ngài lại chấp nhận lời thỉnh cầu của Ác ma? Thông qua đoạn kinh trong Kinh Đại Bát Niết Bàn thì chúng ta thấy rất rõ, khi Ác ma thỉnh Ngài nhập Vô Dư Niết Bàn, Đức Phật đã trả lời dứt khoát:

"Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu".

Và:

"Này Ác ma, ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta... ; khi nào những cư sĩ của Ta... ; khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người".

Qua đó, chúng ta thấy rằng, Đức Như Lai thị hiện nhập Niết Bàn là xét thấy nhân duyên đã đến lúc, và Ngài cũng không muốn đi ngược lại quy luật tự nhiên của vũ trụ, mặc dù với sự tu tập thành mãn tứ thần túc, Đức Phật có thể làm được điều đó:

"Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc... Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại".


Nhưng chính Đức Phật cũng đã khẳng định:

Mọi vật ưu ái, thân hình đều phải bị thay đổi, trở về hư không, biến dịch? Này Ananda, làm sao có thể được như vầy: Những gì sanh khởi, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến diệt? Thật không có sự trạng ấy.”

Chính vì vậy mà Đức Như Lai đã xả bỏ thọ, hành để 3 tháng sau Ngài nhập Vô dư Niết Bàn. Sự ra đi của Ngài hoàn toàn khác với người thường. Ngài chủ động, sắp xếp tất cả, chứ không phải như cái chết của một con người bình thường. “Chết” của một người bình thường là sự phân hoại của danh và sắc và con người hoàn toàn bất lực trước sự phân hoại đó, dù người đó là giàu nghèo, sang hèn, tri thức hay dân dã, ... trong khi đó “nhập Niết Bàn” của Đức Phật là sự từ bỏ thọ uẩn và hành uẩn để rồi cuối cùng từ bỏ sắc uẩn. Đức Phật có ngũ uẩn, nhưng Ngài đã làm chủ được các uẩn đó và tự tại trước sự sống và chết.

Sau cùng, tại Ta La Song Thọ xứ Câu Thi Na (Kusinara), Đức Phật đã thuyết bài pháp không lời về lộ trình thiền tập, Ngài nhập xuất từ sơ thiền đến bát thiền, rồi từ bát thiền xuống lại sơ thiền và lên tới tứ thiền vào Vô Dư Niết Bàn để lại trong lòng người đọc lộ trình tu tập mà chúng ta cần phải nghiên cứu và tu tập.

Tóm lại, Đức Như Lai – Thế Tôn – Bậc A La Hán – Chánh Đẳng Giác thị hiện ở đời, tận tuỵ dẫn dắt chúng ta từng bước đi qua trường đời với từng phận sự ... làm con, làm chồng, làm cha, đến lúc xuất gia, tu khổ hạnh, thành đạo, chuyển Pháp luân, nhập Niết Bàn ... mỗi hoàn cảnh mỗi cách kham nhẫn ứng xử chu toàn. Cả cuộc đời Đức Như Lai là những bài học vô cùng quý báu, tạo nên những dấu ấn, những lối mòn muôn đời toả rực hào quang giác ngộ... mầu nhiệm thiên thu.



[1] Chỉ cho ái dục.

[2] Chỉ cho vô minh.

[3] Chỉ cho phiền não như tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, v.v…

    Chia sẻ với thân hữu:
    In bài viết: