CHÀO MỪNG QUÝ VỊ ĐÃ GHÉ THĂM TRANG NHÀ. CHÚC QUÝ VỊ AN VUI VỚI PHÁP BẢO CAO QUÝ !


Thiền ngộ (Phần 8)

TẮC THỨ 29: GIẶC LÀ NGƯỜI THÂN

Thiền sư Bảo Phúc Thanh Khoát vốn là người Phúc Châu, nhỏ nhưng thông minh. Một hôm ngài cùng cha mẹ đến chùa Cổ Sơn Dũng Tuyền ở phía đông thành Phúc Châu thắp hương. Bấy giờ, trụ trì chùa Dũng Tuyền chính là Quốc sư Cổ Sơn Thần Yến. Vị lão Hòa thượng pháp tướng uy nghiêm, mọi người vốn không dám nhìn thẳng vào mặt ngài. Ngược lại, Thanh Khoát nhỏ mà cảm thấy thân thiện kì lạ, giống như trước đây đã từng nhiều năm theo hầu bên cạnh vị Hòa thượng này vậy. Thế là, ông ở lại Cổ Sơn, xuống tóc làm tăng.

Thiền tâm như đất trời nhàn nhã, năm tháng đạm bạc mà chân thật. Trong tiếng mõ vang vang, tiếng chuông nhẹ nhàng, Thanh Khoát đã trở thành một tỳ kheo trẻ tuổi. Sau khi thọ giới, ông đã có thể ra ngoài tham học rồi. Ông nghe nói dưới trướng của Đại sư bá Huyền Sa Sư Bị có một vị tăng kì lạ- Khế Như Am Chủ. Cảnh giới chứng ngộ của Khế Như rất sâu xa rộng lớn, cơ phong sắc sảo, nhưng không thâu nhận đồ chúng mở đạo tràng giảng pháp, thậm chí ngay cả một tiểu đồng làm thị giả cũng không giữ lại. Một người ẩn cư trên núi Tiểu Giới, đói ăn quả rừng, khát uống nước khe, lấy cỏ làm áo. Nơi ở của Khế Như càng đặc biệt lạ kì – một gốc cây sam lớn trong núi, năm tháng dài lâu, thân cây mục nát, lộ ra một lỗ hỏng lớn, Khế Như khoét cây mục làm cái hang vừa đủ để dung thân tạo thành cái am nhỏ ngồi thiền tu hành.

Thiền sư Thanh Khoát rủ một người bạn tốt - thượng tọa Xung Húc, cùng nhau vào trong núi Tiểu Giới, tham vấn Khế Như Am chủ. Hai người họ, trước đây chưa từng gặp Khế Như, lại không biết ông ta đang ở đỉnh núi, khe rãnh hay trong gốc cây nào, liền tìm kiếm khắp trong núi vắng mênh mông hoang dã. Họ gặp một người đang hái dẻ trong thung lũng, Thiền sư Thanh Khoát đến hỏi thăm người đó: “Xin hỏi, ông có biết am chủ Khế Như ở đâu không?”

Người hái dẻ không đáp mà hỏi lại: “Từ đâu đến?”

Thiền sư Thanh Khoát là người tham cứu tu thiền đã lâu, biết rõ đây là một câu hỏi dường như nhạt nhẽo, nhưng hàm chứa thiền cơ khôn cùng. Vì Tổ sư thiền tông dẫn dắt thiền tăng, từng câu từng câu không xa rời điểm căn bản của tự tánh, cho nên, đây cũng là hỏi bạn sanh từ đâu đến, chết đi về đâu? Ông muốn hỏi là chỗ “đến” đó. Thế là, ông ta liền nhạy bén đáp: “Dưới núi đến”.

Câu này trả lời không nói rõ chỗ nào, mà nói dưới núi, cũng rất có ý nghĩa- cũng giống như đang dò xét người chủ phải chăng có đạo nhãn sáng suốt. Nếu không phải là hành giả hiểu thiền thì thật khó mà đối đáp cho xuôi. Thế nhưng người hái dẻ dường như là một người có kĩ năng xuất chúng: ngươi không thông báo nơi đến, liền tiếp tục khảo nghiệm: “Tại sao đến nơi này?”

Dưới sự khiêu khích của người hái dẻ, Thanh Khoát phát khởi cảm hứng thiền, tiếp tục đối đáp cơ phong với ông ta, hỏi lại đầy thiền ý: “Đây là đâu?”

Nghe lời này, người hái dẻ liền cười, chắp tay nói: “Thế còn không uống trà đi!”

Thanh Khoát và Xung Húc, hai vị thiền tăng mới tỉnh ngộ, người hái dẻ trước mắt đây chính là am chủ Khế Như. Ba người đi đến hang cây, uống trà, đàm luận thiền. Trà núi thanh khiết, uống vào hơi say, cảm thấy như nước suối, như mây trắng, yên tĩnh chảy, nhẹ nhàng trôi; cao tăng luận đạo như tiên, hạc hót trên tầng mây, như bảy sắc cầu vòng nhảy múa trên nền trời, khiến người ngây ngất, như mê như say. Thiền sư Thanh Khoát và thượng tọa Xung Húc ngồi hai bên trái phải, không hay không biết đã đến đầu đêm. Trong lúc vô ý Thanh Khoát nháy mắt nhìn ra bên ngoài, trời ạ, chỉ thấy bên ngoài sài, lang, hổ, báo lũ lượt đi đến trước am, hoặc nhẹ nhàng đi quanh cây lớn một vòng, hoặc tự tại nằm trên đất, tự nhiên mà thuần phục. Nên Thiền sư Thanh Khoát làm một bài thơ phú khen rằng:

Làm không bằng không làm, ai biết sự ở đi.

Bữa ăn như chưa no, nhà nhà không nhờ vả.

Không đạo nên khó phục, tay không chớ tranh giành,

Rồng hét mây nổi dậy, hai ba tiếng tiêu nhàn.

(Hành bất đẳng nhàn hành, thùy tri khứ trú tình.

Nhất xan do vị bảo, vạn hộ vật liêu sinh.

Phi đạo ưng nan phục, không quyền mạc dự tranh.

Long ngâm vân khởi xứ, nhàn tiêu lưỡng tam thanh.)

Thanh Khoát và Xung Húc hai người cảm thấy hang cây của am chủ Khế Như cũng rất nhỏ bé chật hẹp liền làm một ngôi am cỏ tại núi Đại Chương , mời Ngài đến ở. Dưới sự chỉ giáo của Khế Như, mặc dầu thiền sư Thanh Khoát có chỗ sở đắc nhưng trong lòng luôn cảm thấy có sự ngưng trệ, giống như xem hoa trong sương, ngắm trăng trong nước, mơ mơ hồ hồ, mông lung mờ mịt,không rõ ràng xác thực; lại thấy toàn thân như bôi một lớp keo, dính chặt như hồ, không nhanh nhẹn, không thoải mái, thật khiến cho người ta phiền muộn.

Thế là, ông ta chạy đến núi Thụy Long ở Chương Châu tham bái thiền sư Đạo Phổ.

Thụy Long Đạo Phổ là học trò giỏi của Đại sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, đạo nhãn sáng suốt, thấu suốt trời đất. Ông hỏi Thanh Khoát: “Người đã từng bái kiến cao tăng nơi nào? Đã khai ngộ chưa?”

Thiền sư Thanh Khoát nói: “Tôi đã từng tham vấn với am chủ Khế Như ở Đại Chương, được một chỗ tin tưởng”.

Thiền sư Thụy Long cười ha hả, ông cười gì vậy? Đại Chương Khế Như là cháu của ông, năm đó, vị tăng kì dị này sau khi ngộ đạo dưới trướng của sư huynh ông – Huyền Sa Sư Bị, đi đến một mình. Huyền Sa Sư Bị đã huyền kí rằng: “Sự giác ngộ về thiền của ngươi đặc biệt hơn người, cơ phong của ngươi huyền diệu tuyệt vời, nhưng ngươi ngay cả một người kế thừa cũng không có . “Sở dĩ sư huynh Huyền Sa nói như vậy chính là vì Đại Chương Khế Như không khéo dạy dỗ thu nhận đệ tử. Không phải sao, ngay cả Thanh Khoát là một thiền tăng lanh lợi hiếm thấy như vậy, mà theo ông cả thời gian dài, ông cũng không có cách gì dẫn dắt người ta chứng ngô đạo thiền.

Thế thì, thiền sư Thụy Long lại có bí quyết cao minh gì chứ?

Thụy Long vâng lệnh duy na thỉnh hồng chung, triệu tập đại chúng vân tập tại pháp đường. Thiền sư Thụy Long như một con sư tử uy nghi ngồi lên pháp tòa rất cao, im lặng rất lâu, hàng trăm thiền tăng không dám cử động, lặng lẽ không một tiếng động. Nhưng mà, trong lòng họ lại đang hồi hộp: Lão hòa thượng muốn làm gì vậy?

Im lặng, im lặng rất lâu, không khí pháp đường giống như đang dần dần ngưng đọng, như kết thành một lớp băng trong suốt, mỗi một người dường như đều cảm thấy hơi thở càng lúc càng khó khăn…..

Bỗng nhiên, Thiền sư Thụy Long hét một tiếng lớn như long trời lở đất: “Thanh khoát, ra đây! bây giờ ngươi quay về đại chúng đốt hương nói chỗ ngộ của ngươi, lão tăng sẽ ấn chứng cho ngươi!”

Thiền sư Thanh Khoát đáng thương, thình lình bị điểm danh trong chúng, đồng thời còn phải đứng trước mặt hàng trăm thiền tăng giảng nói cảnh giới ngộ thiền, ông ngơ ngẩn một lúc, hoảng sợ đến ngây ngô, mờ mịt không biết gì! Chúng ta nên biết, ông hoàn toàn không hề chuẩn bị về tư tưởng! Nên hiểu, ông chưa từng được triệt ngộ! Nên rõ ràng rằng, hiện tại ông không có lời nào đáng nói!

“Thanh Khoát, ra đây!”

Đây không phải là thúc giục sao? Trong tâm Thanh Khoát trống rỗng, cảm thấy như mình bị lột hết quần áo, trần trụi , sạch sành sanh, không còn một mảnh vải che thân, bị phơi bày trước mặt đại chúng!

“Thanh Khoát, nói !”

Ông muốn tôi nói gì? Thanh Khoát giống như con chó bị dồn vào góc tường, đi đến ngõ cụt, kỳ diệu thay, lúc ông bị bức ép ngẩng đầu trước đại chúng, ông ta thật giống con chó vội vã nhảy qua bức tường, bỗng nhiên nhảy qua được chướng ngại, hoát nhiên triệt ngộ!

Thụy Long rất vui mừng, gật gật đầu, khẳng định, khen ngợi!

Đây là chỗ cao minh của Tổ sư thiền tông: không khởi, không phát, không bức bách thì không ngộ; chó chạy vào tường, con người trong lúc cấp bách phát sanh trí tuệ, người bị ép vào cảnh cùng tuyệt thì sẽ mở ra con đường mới, có chết mới có sanh ra!

Mỗi người chúng ta, hầu như đều trải qua cảnh cấp bách sanh trí tuệ này, trong khó khăn liền đốn ngộ. Chẳng qua cái hành giả phát sanh đó là trí bồ đề, điều chứng ngộ là chân đế của vũ trụ nhân sanh.

Thiền sư Thanh Khoát sau khi khai ngộ, lại ở bên cạnh sư phụ tu tập thêm mấy năm. sau khi sư bá của ông, Đại sư Bảo Phúc Tùng Triển viên tịch, tín chúng liền mời ông đến trú thì thiền viện Bảo Phước. Tại pháp đường, có vị tăng hỏi: “Nhà nghèo nhưng lại gặp lúc có giặc thì làm thế nào?”

Vừa nghe câu nói này, ông đã biết vị tăng này là một người tham thiền lâu năm, trực tiếp vào được chỗ dụng công của việc tham thiền. Thiền sư Thanh Khoát trả lời: “Không phải cướp hết toàn bộ”.

Thiền tăng hỏi: “Tại sao không cướp hết?”

“Vì giặc là người thân!” Thiền sư Thanh Khoát dứt khoát trả lời:

“Cái gì, giặc là người thân à? Đã là người thân, tại sao còn cướp nhà của mình?” Quả nhiên, thiền tăng hỏi lại: “Đã là người thân, tại sao lại trở thành giặc nhà?”

Thiền sư Thanh Khoát liền đưa ra một câu danh ngôn chí lý: “Bên trong không ứng, bên ngoài không thể làm”.

Đúng vậy, không có giặc nhà, sẽ không dẫn quỷ bên ngoài vào; nếu không có tiếp ứng bên trong, há có thể dễ dàng đánh tan thành lũy kiên cố được sao!

Thiền tăng thể hội sâu sắc, gật gật đầu, tiếp tục hỏi: “Bỗng nhiên có giặc làm thế nào để bắt?”

“Trong ngoài không tin tức”.

Thiền tăng không hiểu lắm, đã bắt trộm cướp, phải có tin tức tốt sao? Ông không thấy, người ta sau khi xây dựng cơ nghiệp, đều phải ăn mừng một phen sao. Do đó, ông lại hỏi: “Sau khi bắt được giặc, công lao thuộc về ai?”.

Thiền sư Thanh Khoát trịnh trọng nói: “chưa từng nghe nói đến phần thưởng này”.

Chất vấn những công lao vốn có, đương nhiên là để được thưởng. Nhưng mà, tu tập hành thiền, là một quá trình vứt bỏ chấp trước phân biệt, ngay cả ý niệm vứt bỏ cũng triệt để vứt bỏ, mới viên mãn. Do đó, Thiền sư Thanh Khoát nói: “Thưởng cũng chưa từng nghe”.

Thiền tăng thở dài, hoàn toàn không bằng lòng nói: “Thế thì, mệt nhọc mà công cốc rồi”.

Thiền sư Thanh Khoát dẫn dắt ông ta: “Công lao chẳng phải không có, nhưng có công không trú, nên xem như không có công”.

Sự tu tập của thiền tăng còn chưa đạt đến cảnh giới không, chưa có pháp lãnh hội, không có sự diệu kỳ, liền hỏi: “Đã là thành công, tại sao không tính công để thưởng?”

Thiền sư Thanh Khoát nói câu danh ngôn xưa:

“Thái bình vốn là do tướng giỏi, không để tướn quân thấy thái bình”.

Công án “Giặc là người thân” này, không chỉ liên quan đến chỗ vi tế của dụng công tham thiền, mà còn tràn đầy triết lý sống. Tục ngữ nói, giặc bên ngoài dễ phòng, giặc trong nhà khó tránh. Trong việc tu hành, điều khiến tâm con người phiền phức không yên, chướng ngại khó mà ngộ đạo, thường không phải là nhân tố bên ngoài, mà những chấp trước từ trong tâm của mình - chúng ta quá yêu tự ngã, thậm chí ngay cả những tập khí không tốt (thực ra chúng đều là giặc nhà) cũng không nỡ bỏ đi; những điều gì chúng ta đối với thần thánh (như thành công, sở đắc) thì quá yêu nó, hoàn toàn không chịu bỏ đi…

Một vị thiền giả, nếu không có thể đạt được không làm mà làm, không phải mà phải, thì vĩnh viễn không có cách nào khế nhập đạo lớn của vũ trụ; cũng vậy, một người, nếu không có cách chiến thắng giặc nhà của mình, tức khó thành tựu sự nghiệp vĩ đại.

Thiền sư Thanh Khoát duyên đời sắp hết, muốn ẩn vào núi sâu đợi ngày nhập diệt, liền di chúc kệ:

Người đời không nói đường đi khó,

Đường xa vạn dặm trong gang tấc.

Tạm biệt cây gai bên nước suối

Người về biển biếc ta về non

(Thế nhân hưu thuyết lộ hành nan,

Điểu đạo dương trường chỉ xích gian.

Trân trọng trữ khê khê bạn thủy,

Nhữ qui thương hải nga qui sơn.)

Lập tức, ngài nhường chức trụ trì, rời chùa Bảo Phúc, đến tháp Quý Hồ cất một am cỏ. Lúc sắp nhập diệt, ngài nói với đệ tử: “Sau khi ta chết, đem thi thể ta vứt cho sâu, kiến, để chúng có một bữa ăn ngon, no, tiết kiệm được việc xây tháp, chôn cất”.

Nói xong, ngài leo lên đỉnh núi Hồ, ngồi trên tảng đá lớn, nhẹ nhàng về Tây.

Đệ tử làm theo di chúc của Sư phụ, đem thi thể của ngài đặt ở vùng đất bằng bảy ngày, nhưng mà, cuối cùng không có con sâu nào đến ăn cả!

Liên quan đến thiền cơ: Đau Khổ Tức Của Cải.

Tổ sư thiền tông nói: “Phiền não tức bồ đề” nghĩa là phiền não và bồ đề không phải là hai.

Đây là một cảnh giới mà người thường chúng ta rất khó lý giải: tất cả tác dụng tinh thần ngăn ngại sự giác ngộ đều gọi là phiền não; ngược lại, cắt đứt những phiền não thế gian để thành tựu trí tuệ niết bàn gọi là bồ đề. Hai thứ này đối lập, tương phản nhau! Nhưng, đứng trên góc độ tư duy của thiền giả, về mặt biểu hiện tuy phiền não là thái độ trái ngược với bồ đề (giác), nhưng trên bản thể, hai thứ phiền não và bồ đề đều đồng nhất. Cũng như sóng cuộn trào dữ dội, nó thật ra cũng chỉ là nước, phàm là nước, đều có bản tính hướng đến bằng phẳng và yên tĩnh. Sóng cũng như vậy, xem ra nó giống như làn sóng cuồn cuộn, trên thực tế lúc nào cũng đều có xu hướng bằng phẳng yên tĩnh. Phiền não tứcbồ đề, là cách nói rốt ráo của Phật giáo đại thừa. Có thể nói, không có phiền não, thì không có bồ đề: xa rời phiền não, tức không còn cách nào để chứng đắc bồ đề. Nếu khi phải đoạn trừ chấp trước phiền não làm phai mờ đi ý nghĩ chấp trước, ngược lại sẽ hiện rõ đại trí tuệ giác ngộ, lĩnh hội sự rộng mở trong sáng của giác ngộ.

Phiền não là phản ánh của sự đau khổ. Phiền não tức bồ đề, vậy thì, phiền não chính là tài sản phải không? Câu trả lời của thiền giả là đồng ý. Thiền sư xưa có một câu nói: “tìm đạo ở trong đau khổ”, đối với thiền giả đau khổ là tài sản quí giá, là vốn liếng do trí tuệ sản sanh, là con đường giác ngộ tất yếu.

Thực ra không chỉ học Phật tu thiền như vậy, mà tất cả sự vật của thế gian đều như vậy: Ngọc không dũa không thành đồ trang sức, kiếm không mài không thể sắc bén. Trời không có sự trái nghịch của thu tàn, đông tận thì làm gì có sự phồn thịnh của xuân sanh, hạ trưởng? Nếu không có hồng thuỷ cuồn cuộn thì cha lành khó gặp, thì làm sao Đại Vũ có thể thành công trong việc trị thủy? Lửa phiền não, quả thực là nhân của giác ngộ.

Vương Mạnh Quân là một thanh niên đầy nhiệt huyết chí khí mạnh mẽ, để giúp đỡ xây dựng biên cương, vào mùa xuân năm 1952 cô nhập ngũ, đến binh đoàn xây dựng Tân Cương xa xôi, gian khổ. Lúc ấy, đúng vào thời kỳ đầu của thời xây dựng đất nước, cô đem tất cả nhiệt tình tham gia vào công cuộc xây dựng biên cương. Một lần nọ, để cứu tài sản quốc gia, Vương Mạnh Quân quên mình nhảy vào nước sông Lão Long lạnh buốt…

Trời rất lạnh, ngâm mình trong băng lạnh, làm cô ta mắc bệnh phong thấp nặng và viêm tai giữa. Mặc dầu cô được cứu sống, nhưng bệnh tình chưa thể chữa trị được, nên tiếp tục nặng thêm, và dẫn đến bại liệt tay chân.

Vương Mạnh Quân, vì bảo vệ tài sản quốc gia, mà từ một thanh niên tươi sáng rực rỡ như hoa, trở thành một người vừa điếc vừa liệt. Đương nhiên nhân dân sẽ không quên cô, khen ngợi cô là “bảo vệ” của Trung Quốc; để chăm sóc tốt hơn cho cô, tổ chức đã đưa cô đến trại an dưỡng để nghỉ ngơi. Nhưng cô không muốn trở thành gánh nặng cho quốc gia, yêu cầu được làm những công việc mà sức mình có thể làm được. Thế là, với nghị lực lớn lao, cô đã chống nạng đi nuôi ong.

Cô, người tàn tật nuôi ong ở nơi vắng vẻ, khó khăn của cô chúng ta có thể biết được. Một hôm, trong lúc chăm sóc thùng ong mật, do vì chân cô không thuận tiện, nên ngã xuống đất, làm lật ngửa thùng ong. Trong chốc lát, hàng ngàn con ong mật bị làm kinh động cho rằng kẻ thù bên ngoài tấn công, bay ra khỏi tổ, chích vào thân, vào mặt … cô.

Cô bị ong chích hơn 200 chỗ, thật không còn thấy mặt mũi - đầu sưng rất to, mặt, trán giống như cái bánh bao, mắt đều sưng húp. Cô cứ sốt cao mãi, rơi vào tình trạng nửa mê nửa tỉnh. Bác sĩ nói: trúng độc nghiêm trọng như vậy, e rằng… Nhưng, thật không ngờ, sau một tuần lễ, cô không chỉ lần nữa vùng vẫy từ cái chết trở về, mà tình trạng bệnh phong thấp đau đầu và viêm tai giữa dày vò cô trong tám năm trời đều tiêu tan!

Kỳ tích, một kì tích mãi mãi không thể nào xuất hiện trong tình huống bình thường được!

Từ đó, cô bỗng nhiên nghĩ đến: chẳng lẽ, dịch độc của ong mật, quả thật có thể chống lại độc của bệnh phong thấp? Lấy độc trị độc, là phương pháp quí báu mà tổ tông chúng ta trị liệu bệnh tật! Cô suy nghĩ thêm, ong mật dùng vòi ong chích người, há chẳng phải là giống như dùng kim chích của đông y sao? Nếu để chúng nó chích vào huyệt vị thích hợp, chẳng phải là một loại trị bệnh đặc thù sao?

Từ đó, cô đi bắt nghiên cứu dùng ong mật trị liệu bệnh tật.

Vương Mạnh Quân bắt đầu hệ thống kiến thức học tập đông y, từ “bản thảo cang mục” đến “trung y dược đại điển”, từ kim châm đến kinh nghiệm dân gian… trong lúc đọc và tra cứu tư liệu cô phát hiện, trong dịch độc ong mật có “chất an độ” có công hiệu giảm sự đau đớn, trừ viêm, tác dụng của sự giảm đau, gấp 70 lần trừ viêm. Mà vòi ong, là dụng cụ tiêm chích của các vị tổ tông, vừa an toàn, lại tuyệt đối không bị không khí lọt vào.

Bản thân Vương Mạnh Quân mắc bệnh phong thấp đã cung cấp cho thí nghiệm của cô một vật dẫn tốt nhất - nếu không bệnh tật, làm sao có thể thể nghiệm sự thay đổi vi tế của tính thuốc? Làm sao có thể cảm nhận được công hiệu nhỏ nhặt? Cô đã thí nghiệm các huyệt vị trên thân cô. Hai năm sau, cô vứt bỏ cặp nạng, bắt đầu đứng được - lại một kì tích.

Một kì tích lớn hơn còn ở phía sau: trải qua nhiều năm tìm tòi, cô nắm bắt được phương pháp trị liệu bằng ong mật có tính sáng tạo riêng, trở thành một vị bác sĩ trị liệu bằng ong chuyên nghiệp. Viết ra một số lượng luận văn lớn có phong cách đặc biệt, chữa lành cho hàng vạn bệnh nhân bị các chứng bệnh khó điều trị như bệnh phong thấp, các loại phong thấp, đau thần kinh; những thành công đã giúp những người tàn tật, bại liệt nhiều năm có thể đi đứng được trở lại.

Chuyện tương tự như vậy, Yên Đài - Triệu Kế Vĩnh từ một người bị bệnh gan nặng, đến nhà phát minh, nhà doanh nghiệp, nguồn vốn chỉ là một, cũng là đau khổ.

Ngày 28 tháng 4 năm 1989, trong lúc Triệu Kế Vĩnh lau chùi cửa sổ, vô ý đụng vào nọc độc che khuất trong khe cửa của một con bò cạp, bị chích dữ dội một hồi, Triệu Kế Vĩnh vốn bị bệnh gan rất nghiêm trọng, bây giờ thân lại trúng độc bò cạp, nên đau đớn không chịu nổi, một luồng ngứa lạ lùng như điện chạy khắp cơ thể, lúc đó, thân thể bắt đầu co giật không thể khống chế được. Trong lúc hoảng hốt, ông ta dường như đã thấy thần chết đi đến, đang dùng đôi cánh tay to lớn vô tình, bóp chặt yết hầu của ông… Nhân lúc ông ta còn tỉnh táo đôi chút, đã viết di chúc, giao phó hậu sự, trong đêm dài tĩnh lặng chờ đợi phút cuối cùng đến…

Thế nhưng, ngày hôm sau, lúc mặt trời lên cao, Triệu Kế Vĩnh không chỉ không những không la hét, ngược lại còn tỉnh táo thức dậy. Càng kỳ lạ hơn là thân thể ông ta bị bệnh tật dày vò lâu ngày, nung nấu sáu năm, bây giờ cảm nhận được sự nhẹ nhàng thoải mái chưa từng có, toàn thân nhẹ nhàng sảng khoái vô cùng.

Chẳng lẽ, độc bò cạp có thể trị được bệnh gan?

Triệu Kế Vĩnh liền suy nghĩ, cầm 120 đồng tiền còn lại trong nhà, đi mua 100 con bò cạp, nuôi ở trong nhà. Đợi khi bò cạp nhỏ lớn lên, ông ta bắt đầu những cuộc thí nghiệm tàn khốc thậm chí rất dã man - để thân thể trần truồng cho bò cạp cắn; bắt từng con bò cạp bỏ vào trong miệng, ăn tươi nuốt sống...

Nữa năm sau, ông ta tự cảm thấy thân thể hoàn toàn khỏe, đến bệnh viện kiểm tra, công năng của gan hoàn toàn bình thường. Bác sĩ lật xem bệnh án của ông, kinh ngạc vô cùng, không sao tin được.

Từ đó, Triệu Kế Vĩnh bắt đầu nuôi bò cạp với số lượng lớn. Ông ta lại càng nghĩ đến, thành phần trị bệnh chủ yếu của bò cạp là nộc độc bò cạp. Từ đó, ông lại phát minh ra kỹ thuật lấy chất độc từ bò cạp sống, kỹ thuật tinh chế bột bằng độc bò cạp, nghiên cứu chế biến những sản phẩm từ chất độc ở miệng và bụng bò cạp…

TẮC THỨ 30: GỌI CÁI GÌ LÀ VẠN TƯỢNG

Thiền sư Long Tế Thiệu Tu, nguyên xuất gia với Thiền sư Huệ Lăng tại chùa Trường Khánh tỉnh Phúc Châu. Năm nọ, một tỳ kheo trẻ từ Triết Giang vân du đến chùa Trường Khánh xin ngủ nhờ. Ông là Đại sư Văn Ích rất nổi tiếng, khai sáng tông Pháp Nhãn sau này. Pháp Nhãn Văn Ích hào hoa phong nhã, bụng đầy gấm vóc; Long Tế Thiệu Tu tâm hồn khoáng đãng, cử chỉ tự tại; còn một vị nữa là thiền sư Pháp Tiến, ba người tuổi tác xấp xỉ, tính tình gần giống nhau, đều là những thiền khách đầy ý chí. Tự nhiên trở thành bạn tốt. Họ tham thiền ở dưới trướng của thiền sư Trường Khánh Huệ Lăng đã lâu, cơ duyên chưa khế hợp, không thể ngộ nhập. Thế là, sau khi giải hạ, nhân mùa thu mát mẽ ba người bạn tốt cùng nhau tham học kết bạn đi vân du đó đây.

Chùa Phật cô trang giữa vách núi,

Ta đến cảnh thơ càng tương quan.

Bên động cây rung khỉ xuống suối,

Trong mây lay động Tăng lên núi.

(Phật thi cô trang thiên chướng gian,

Ngã lai thi cảnh cường tương quan.

Nham biên thọ động hầu hạ giản,

Vân lí tích động tăng thướng sơn.)

Thiệu Tu và hai người bạn tham thiền cùng thong thả vân du, họ vào núi sâu viếng chùa cổ, vào am cỏ thăm lão tăng, không hay khong biết cây cỏ đã ngã sang màu vàng, lá bay lác đác. Mùa đông lặng lẽ đến. Lúc họ đi qua Chương Châu, một trận tuyết lớn trên trời giáng xuống, trời đất mịt mờ, đi lại trở ngại. Họ đến thiền viện Địa Tạng phía Tây Chương Dương, xin ngủ nhờ, định đợi tuyết dừng rồi vân du tiếp.

Trú trì viện Địa Tạng, chính là La Hán Quế Thâm cùng qua lại với Huệ Lăng Trường Khánh rất thân thiết. Đại sư Quế Thâm kiến thức cao thâm, cơ phong như núi, chỉ vài ba câu, đã thuyết phục được ba thiền giả lang thang trong thiền lâm này, khiến họ năm vóc sát đất, đặt hành lý xuống, ở lại đó một thời gian lâu dài (xem Tùng Thư “Thiền Thiên Thiền Địa – Nhất Thiết Hiện Thành”). Dưới sự huấn luyện của Đại sư Quế Thâm mối nghi ngờ trong lòng Pháp Nhãn đã bùng vỡ như băng tan. Thiệu Tu cũng đạt được sở đắc. Một ngày nọ, Đại sư Quế Thâm lên pháp đường, có hai vị tăng ra lễ bái. Không đợi họ hỏi, Quế Thâm liền trách mắng: “Sai, đều sai, hai người đều sai!”

Hai vị tăng ngốc nghếch, mù tịt không đáp được. Sau buổi giảng, hai người họ đến gặp thiền sư Thiệu Tu hỏi thêm. Thiệu Tu nói: “bản thân ngươi đường đường nguy nga (chỉ Phật tánh vốn có của mỗi người), lại lễ bái người khác, còn muốn nhờ người khác chỉ bảo, chẳng phải là sai lầm lắm sao?”

Lúc đó, thiền sư Thanh Khê Hồng Tiến là thủ tòa của viện Địa Tạng. Ông đứng bên cạnh nghe xong, cười lạnh lùng. Thiệu Tu biết thủ tòa không đồng ý cách nói của mình, liền quay sang hỏi: Chẳng lẽ lời của tôi có gì sai sao? Thế thì, ý của thủ tòa như thế nào?”

Thủ tòa Hồng Tiến nói: “Tự ông còn mê hoặc, lại có thể chỉ điểm điều mê cho người khác sao? Dùng mê dắt mê, dùng mù dắt mù, có thể không sai được sao!”

Thiệu Tu không phục, tức giận đến phương trượng, nhờ đường đầu Hòa thượng phân giải. Đại sư Quế Thâm không trực tiếp bình luận đúng sai của họ, dường như không quan tâm đến chỉ tay xuống dưới hành lang nói: “Điển tòa đi vào phòng người giữ xe đi.”

Thiệu Tu nghe xong, biết rõ mình sai rồi.

Lại một hôm khác, thủ tòa Hồng Tiến hỏi thiền sư Thiệu Tu: “Biết rõ đạo lý sanh là không sanh, tại sao còn luân lạc trong dòng sanh tử luân hồi?”

Thiệu Tu nói thiền rất hay: “Măng, cuối cùng thành tre, nay chẻ tre còn được không?”.

Thủ tòa Hồng Tiến cười ha hả, nói: “từ nay về sau ngươi tự đi thể ngộ đi.”

Thiệu Tu chất vấn: “Kiến giải của tôi chỉ như vậy, ý chỉ của thủ tòa như thế nào?”.

Thủ tòa Hồng Tiến chỉ trước phòng nói: “Đây là phòng khách, kia là phòng điển tòa”.

Thiệu Tu hơi tỉnh ngộ, bèn lễ tạ Hòa thượng thủ tòa đã nhiều lần dẫn dắt ông ba lễ.

Người bạn Pháp Tiến cùng từ Phúc Châu đến, ngưỡng mộ chùa chiền ở Triết Giang mọc lên như rừng, cao tăng vân tập, nên rủ Pháp Nhãn Văn Ích cùng mình đi lên phía Bắc. Thiền sư Long Tế Thiệu Tu tự cho rằng sở đắc đã rốt ráo, liền cùng hai người bạn từ biệt sư phụ, mây nước vân du. Thiền tăng hành cước, trên đường tự nhiên sẽ thảo luận đến chuyện tu hành. Thiền sư Thiệu Tu cứ thao thao bất tuyệt, nói năng khoác lác, dường như điều gì cũng biết, việc gì cũng có thể. Nhưng từ lời nói của ông Pháp Nhãn Văn Ích có thể thấy sư đệ Thiệu Tu chưa phá được cửa thiền cuối cùng. Lúc họ đến Kiến Dương, Thiệu Tu lại bắt đầu nói suông về thiền lý. Bỗng nhiên, Pháp Nhãn Văn Ích chỉ con ve đang kêu ở trên cây nói: “Con ve này, suốt ngày kêu ‘biết rồi, biết rồi’, nhưng cái biết của nó thật sự đã biết rõ chưa?”

Pháp Tiến nháy nháy đôi mắt nhỏ, bộ mặt buồn cười, cũng thừa cơ khiêu khích nói: “Nó tuy suốt ngày không ngừng kêu thiền, nhưng không biết thiền (con ve trong tiếng hán là thiền cùng âm với thiền) là vật gì?”.

Thiệu Tu bị hai người họ cười nhạo đỏ cả mặt, ông vừa xấu hổ vừa tức giận, nên miễn cưỡng ngụy biện rằng: “Các người không phải là ve (thiền), làm sao biết nó không biết về thiền?”.

Pháp Nhãn Văn Ích không cười đùa nữa, trịnh trọng hỏi ông ta: “Chúng ta cùng tham bái Đại sư Trường Khánh Huệ Lăng, ông lại xuất gia ở chùa Trường Khánh, tham thiền lâu năm, một bài kệ ngài nói:

“Trong vạn tượng riêng lộ tự thân,

Riêng ta tự nhận mới biết gần.

Ngày xưa lầm lỡ tìm giữa đường,

Ngày nay nhìn lại băng trong lửa.”

“Trong vạn tượng riêng lộ tự thân là ra khỏi vạn tượng hay không ra khỏi vạn tượng?”

Trong vạn tượng riêng hiển lộ bản thân, đương nhiên đó là tự tánh; bạt, nghĩa là bài trừ, tách ra. Thiền sư Thiệu Tu đáp: “Không trừ”.

Pháp Nhẫn cười ha hả, hỏi: “trừ hay không trừ là gì?”

Thiệu Tu mờ mịt không hiểu diệu dụng thâm sâu trong đó, quẫn bách đến nỗi đỏ mặt tía tai. Ông lập tức chuyển phương hướng, đi suốt ngày đêm quay về viện Địa Tạng. Đại sư La hán Quế Thâm hỏi ông: “Ngươi đi chưa lâu, sao lại trở về rồi? Cứ đi đi về về, cũng không sợ gân cốt mỏi mệt sao”.

Thiệu Tu nói: “Trong lòng có vấn đề chưa giải quyết được, chẳng lẽ lại sợ trèo non lội suối sao!”

Đại sư Quế Thâm nói: “Ngươi trèo non lội suối nhiều rồi, mà chưa cảm thấy chán nản à!”

Tốt và xấu là sản phẩm do lòng người phân biệt mà có. Một đống phân trâu nằm giữa đường, chúng ta đều bịt mũi đi qua, chỉ sợ tránh cũng không khỏi; người nông dân hốt phân từ xa thấy nó, mắt sẽ sáng rực lên, sợ bị người khác cướp đi; ý của Đại sư Quế Thâm muốn nói, Thiệu Tu không chán trèo non lội suối, đối với sông núi chưa khởi tâm phân biệt, nhưng sông núi tức là vạn tượng! Ngươi ra khỏi hay không ra khỏi?

Tiếc rằng, Thiệu Tu chưa lãnh ngộ chỉ dụ của sư phụ, nên có hỏi:“Người xưa nói: Trong vạn tượng riêng hiển lộ thân, rốt cuộc nghĩa là gì?”

Đại sư Quế Thâm hỏi ngược lại để chỉ thị cho ông: “Ngươi nói, người xưa ra khỏi vạn tượng hay không ra khỏi vạn tượng?”

“Không ra khỏi”. Thiệu Tu vẫn đáp như cũ. Quế Thâm đưa ngón trỏ và ngón giữa ra nói: “Hai ngón rồi”

Đại sư Quế Thâm muốn nói: “Vạn tượng” cũng “riêng lộ thân” không hai không khác, nói ra khỏi, hay nói không ra khỏi, đều sẽ phân ra hai bên, cho nên ở đây không thể khởi tâm phân biệt.

Hai ngón tay của sư phu, giống hai ngọn núi cao lớn hùng vĩ, cao, không thấy đỉnh của nó, rộng ,không thấy bên kia, không thể nào leo lên, không thể vượt qua, tức chỉ có thể đứng trước nó như vậy ! Thiệu Tu im lặng trầm tư, sau đó lại hỏi: “Không biết người xưa ra khỏi vạn tượng hay không ra khỏi vạn tượng?”

Thiệu Tu đã đến nông nổi này, tư tưởng ý thức còn rơi vào phân biệt đối lập giữa ra khỏi và không ra khỏi, không thể tự bước ra được! Quế Thâm hét một tiếng: “Ngươi gọi cái gì là vạn tượng?”

Thiệu Tu bỗng nhiên tỉnh ngộ.

Sâm la vạn tượng, đều là hiển hiện tự tánh, cho nên, Mã tổ nói: thấy sắc tức thấy tâm; vì vậy trong con mắt thiền giả, từng hạt bụi đều là hiện thân vốn có; vì vậy, trong sâm la vạn tượng, đặc biệt hiển bày ra pháp thân thanh tịnh. Sau đó, đại tài tử Tô Đông Pha đời nhà Tống cũng lãnh ngộ được cảnh giới này nên viết bài thơ rằng: “Tiếng suối tức là lưỡi rộng dài, sắc núi chính là thân thanh tịnh”.

Ngàn năm sau, sau khi Đại sư Hư Vân, cao tăng thời cận đại khai ngộ, có bài kệ: “Xuân đến khắp nơi hương hoa đẹp, sông núi đại địa là Như Lai”.

Từ đây có thể thấy, thiền tông liền một mạch nguồn, pháp vốn như vậy, xưa nay tiếp nối, xưa nay tương đồng.

Sau khi Thiệu Tu đại ngộ, một lần nữa từ biệt sư phụ, đuổi kịp hai người bạn Pháp Nhãn Văn Ích và Pháp tiến; Lúc hai người một lần nữa nói đến công án này, Thiền sư Thiệu Tu mới phát hiện, lời của Pháp Nhãn cùng sự khai thị của Quế Thâm, trước sau đều giống nhau, hoàn toàn nhất trí.

Phật pháp không nhiều mối, đạo thiền chỉ một cửa, quyết không dối vậy.

Sau này Thiền sư Thiệu Tu một mình đến ở ẩn tại chùa Long Tế - Ngô Châu - Giang Tây, người ta gọi ông là “Tu Sơn Chủ”. Ông vốn không nghĩ dến việc thâu nhận đồ chúng khai mở đạo tràng thuyết pháp. Nhưng học tăng bốn phương nghe tiếng mà đến, theo ảnh hỏi người, chùa Long Tế yên tĩnh nghiễm nghiên trở thành đạo tràng náo nhiệt. Long Tế Thiệu Tu không thể không thăng tòa thuyết pháp: gồm pháp phàm phu, phàm phu không biết, gồm pháp Thánh nhân, Thánh nhân không hay, Thánh nhân nếu biết tức là phàm phu, phàm phu nếu biết, tức là Thánh nhân. Hai câu này một lý mà hai nghĩa, nếu người biện bác được, không trở ngại trong Phật pháp có người ấy, nếu không biện bác được, chớ nói không nghi ngờ, tạm biệt!

Có một vị Tăng hỏi: “Thấy sắc liền thấy tâm, hiển lộ là sắc, thế nào là tâm?”

Long Tế Thiệu Tu nói:” Thật may ngươi chưa lãnh hội, đừng lừa dối người đã rõ”.

Thiền tăng không hiểu, lại hỏi:” Làm sao ra khỏi ba cõi?”

Thiền sư Thiệu Tu: “Nếu là ba cõi, thì tùy ngươi ra khỏi”

Ý ông muốn nói, vạn pháp vốn không, không có ba cõi để mà ra khỏi.

“Không phải ba cõi thì như thế nào? Thiền tăng vẫn rơi sâu vào trong sự phân biệt, Thiền sư Thiệu Tu dứt khoát để ông ta đã ở trong tuyết lại còn thêm sương, nên hỏi lại: “Chỗ nào không phải là ba cõi?”.

Một niệm tỉnh ngộ, tuy có ba cõi nhưng không ngăn ngại; một niệm mê muội, ba cõi vốn không nhưng lại chướng ngại.

Đệ tử hỏi: “lúc gương xưa chưa lau thì như thế nào?”.

Long Tế Thiệu Tu nói: “Chiếu soi trời đất”.

Người xưa đều dùng gương bằng đồng, gương đồng chưa lau, đương nhiên không thể sử dụng, nhưng Thiền sư Thiệu Tu tại sao nói: “Nó chiếu khắp trời đất?” Thì ra, đây là một công án mà thời xưa các Thiền sư thường nêu ra. Gương xưa, tượng trưng tự tánh; chưa chùi, là chưa từ bỏ bụi trần, cũng chính là chưa minh tâm kiến tánh. Lục Tổ Huệ Năng nói: “Tự tánh vốn tự nó thanh tịnh, Ngài còn nói, “vốn không có một vật nào, lấy chỗ nào để bụi bám?”. Cho nên, gương xưa tượng trưng tự tánh, căn bản không có phân biệt chùi hay không chùi. Lúc chưa chùi, bản tính chiếu khắp trời đất của nó cũng không giảm tí nào.

“Sau khi chùi như thế nào?” Đệ tử không hiểu, hỏi tiếp. Thiệu Tu trả lời rằng: “Đen thui thui”.

Có một vị du tăng đến, Long Tế Thiệu Tu hỏi ông từ đâu đến? Ông ta nói từ Thúy Nham đến. Thiền sư Thiệu Tu hỏi: “Thúy Nham dạy đồ chúng câu gì ?”

Vị du tăng đáp: “Thiền sư Thúy Nham thường nói: ra đường gặp Di Lặc, vào nhà thấy Thích Ca”.

Thiền sư Thiệu Tu có ý không hiểu, nói: “làm sao lại nói như vậy được!”

Du tăng là một vị tham thiền đã lâu, biết vị đường đầu đại Hòa thượng đang tạo thiền cơ dẫn dắt mình, lập tức tiếp cơ, gạn hỏi thêm: “ thưa đại Hòa thượng ngài nói như thế nào?”

Thiền sư Thiệu Tu hỏi đầy thiền ý: “Ra đường gặp ai vào nhà thấy người nào?”

Du tăng tỉnh ngộ ngay trong câu nói đó, Thích ca Mâu Ni cũng được, Di Lặc bụng to cũng được, vào nhà,ra đường chẳng phải đều là diệu dụng và vận hành của tự tánh đó sao!

Long Tế Thiệu Tu lên pháp đường nói: “Thanh sắc không đến nơi, lỗi ở chỗ thấy nghe, giải thích không tường tận, quấy ở nơi vành môi”.

Ý ngài muốn nói chân đế của thiền, không thể dùng ngôn ngữ để trình bày rõ ràng rõ ràng. Một vị thiền tăng rất nhạy bén, nói rằng: “thưa Hòa thượng xin ngài nói về xa lìa tất cả thanh và sắc.”

Xa lìa thanh sắc, làm sao có thể nói? Còn nói cái gì?” Nhưng thiền sư Thiệu Tu tự chuyển hướng nói: “Ngươi ở trong thanh sắc mà lại hỏi!”

Thế là Thiền Tăng cơ trí liền từ trong thanh sắc hỏi: “Thế nào là tâm của con?”

Thiền sư Thiệu Tu nói: “Là ai đang hỏi như vậy?”

Đúng vậy, người đang hỏi kia, người có thể hỏi vậy kia, chẳng phải chính là tâm ngươi sao!

Thiền sư Thiệu Tu học rộng văn hay, có trước tác “Quần Kinh Lược Yếu” và hơn 60 bài thơ tụng truyền lại cho đời. Như:

Gió động tâm cây lay,

Mây sanh thổi bụi trần.

Nếu ngày hôm nay sáng,

Mê mờ không đến ngươi.

Muốn biết đạo giải thoát,

Các pháp không cùng đến

Mắt tai không thấy nghe,

Thanh sắc đến quấy rối.

Sơ tâm chưa nhập đạo,

Cũng không được náo loạn,

Trong tiếng chuông lấy bỏ,

Trong tiếng trống đảo điên.

Chư Phật không xuất thế

Bốn chín năm thuyết pháp.

Tổ sư không quy Tây,

Thiền Lâm có diệu quyết.

Vạn pháp là tâm sáng,

Các duyên chỉ tánh biết.

Vốn không người mê ngộ,

Chỉ cần hôm nay thôi.

Liên quan đến Thiền cơ : Câu Chuyện Nguyên Hiểu

Theo Phật giáo truyền thừa bằng chữ Hán, ngày xưa được truyền đến bán đảo Triều Tiên. Vì vậy, trên bán đảo này có nhiều chùa chiền, cao Tăng xuất hiện. Nước Tân La thời cổ đại, vị cao tăng Nguyên Hiểu thuộc tông Hoa Nghiêm được xưng là một vị cao tăng kiệt xuất, trác việt. Ảnh hưởng của ngài không chỉ giới hạn ở Phật giáo Tân La. Dù cho các vị cao tăng đại đức của Phật giáo Trung quốc liên tục xuất hiện thì ảnh hưởng của ngài cũng không hề phai mờ.

Nguyên Hiểu là người Tương Châu - Tân La, họ Tiết, nhỏ tên là Thệ Tràng, lớn lên xuống tóc xuất gia ở chùa Hoàng Long, chuyên tâm tu học. Sau này, ngài bái Pháp Tạng chùa Hưng Luân và Cao Cú Lệ Tăng Phổ Đức làm thầy, học tập “Kinh Niết Bàn” v. v… lúc chưa vân du đây đó ngài thường đến thỉnh giáo những vị Cao Tăng khác. Chính cách chuyên sâu nghiên cứu không biết mệt mỏi này, khiến văn phong của ngài phóng khoáng, biện bác sắc sảo, không ai có thể so tài cùng ngài. Cho nên, mọi người gọi ngài là “thắng vạn người”.

Người xưa dạy: học mà không biết đủ, Nguyên Hiểu học lại có thành tựu, nhưng càng ngày càng cảm thấy Phật giáo rộng lớn uyên thâm. Thế là, ngài cũng giống những bậc tiền bối trên bán đảo vậy, bắt đầu nảy sinh ý niệm sang nhà Đường cầu pháp. Tân La năm thứ tư Chân Đức Nữ Vương (năm 650 tây lịch) Ngài rủ sư đệ Nghĩa Tương cùng đang tu học dưới trướng Phổ Đức (năm 625 – 702, sau khi học thành tài từ Trung Quốc trở về, đã trở thành sơ tổ tông Hoa Nghiêm ở bán đảo Triều Tiên, được xưng là “Viên giáo Quốc sư”) kết bạn cùng đi.

Lúc họ đến vùng ranh giới giữa Đường Châu và Hải Môn, đột nhiên gặp mưa to gió lớn, hoang vắng không một bóng người, phía trước chẳng thấy thôn phía sau chẳng thấy nhà, ngay cả một chỗ ẩn mưa tránh gió cũng không có. Trời tối rất nhanh, chỉ thoáng chốc, trời tối sầm đến nỗi đưa bàn tay ra không thấy rõ năm ngón. Trời xanh dường như xót thương cho họ, Nguyên Hiểu may mắn phát hiện ra một cái hang trong đê đất bên đường.

A Di Đà Phật ! Cám ơn trời đất ! Đối với người đi đường gặp phải mưa gió, thì một cái hang đất tối om om chính là thiên đường rồi. Hai người họ vừa mò mẫm đi vào, vô cùng vui vẻ, sung sướng nằm xuống, thoáng chốc đã chìm vào giấc mơ ngọt ngào…

Ngày hôm sau, trời mới sáng, vừa tỉnh dậy, Nguyên Hiểu thoáng nhìn, trời ạ, họ đang nằm trong ngôi mộ cổ!

Dưới chân hài cốt nằm ngổn ngang, mấy cái đầu lâu đen sì đang nhìn họ… Nguyên Hiểu nổi da gà, lạnh xương sống…

Nếu không phải bên ngoài trời đang mưa như trút nước, cuồng phong thịnh nộ, thì ông chẳng dám ở trong ngôi cổ mộ âm u đáng sợ này thêm chút nào nữa. Ông trời như đang quyết tâm thử thách dũng khí của họ, suốt một ngày như vậy mưa gió vẫn không ngừng. Trời lại dần dần u ám trở lại, lại thêm một đêm nữa. Hai người học không thể không gan lì được, tiếp tục ở trong ngôi mộ cổ thêm một đêm dài đằng đẵng.

Ban đêm, là lúc những u linh và quỷ quái ẩn hiện, huống hồ ngôi cổ mộ này, vốn là thế giới của những hồn quỷ.

Nguyên Hiểu nằm ngồi không yên ổn, lại càng không dám ngủ, thậm chí không dám nhắm mắt lại! Đêm, càng lúc càng khuya, trời, càng lúc càng tối, trong sợ hãi, những u hồn quỷ quái trong cổ mộ xuất hiện, từng tràng bóng quỷ, làm cho người ta vô cùng lo sợ …

Thế là, trong lúc sợ hãi cực độ, Nguyên Hiển bỗng nhiên nghĩ đến: “Đêm thứ nhất, một lòng cho rằng đây là hang đất, tất cả bình an vô sự. Đêm nay, trong lòng luôn nghĩ mình đặt thân nơi xứ quỷ, mới có nhiều ma quỷ tác quái như vậy. Từ đây có thể biết, toàn là do tâm sanh, mới có các pháp sanh, chỉ cần tâm diệt, thì các loại u linh cũng không thể hiện hình.”

Nghĩ đến đây, ông bình tâm trở lại ngồi thiền, giữ chặt tâm niệm của mình, tỉnh táo yên tịnh, rõ ràng sáng suốt , quả nhiên tất cả hình ảnh huyễn hóa của ma quỷ đều biến mất không còn bóng dáng, mộ cổ đêm nay và hang đất đêm qua, không hai không khác. Từ đó ông ta lại nghĩ: “Đây chính là tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, cũng là chứng minh rằng ngoài tâm không có pháp. Cho nên, người xưa nói: “tất cả pháp đều do tâm khởi, chớ tìm cầu bên ngoài’ vậy thì, Nguyên Hiểu ta tại sao phải tìm cầu chân lý bên ngoài tâm, đến Trung Quốc cầu pháp gì chứ?”

Ngày hôm sau, bầu trời trong sáng, sóng nắng chiếu trên cao. Nhưng mà, Nguyên Hiểu lại cáo biệt Nghĩa Tương, không đi về hướng Đại Đường nữa, một mình quảy hành lý trở lại Tân La. Và trọn đời không bao giờ nghĩ đến việc sẽ xa rời cố quốc nữa.

Nguyên Hiểu cho rằng đây chính là nguồn của luận vạn pháp đều do thức, từ đó về sau, hướng cho bán đảo Triều Tiên thoát khỏi thời kì cầu pháp Phật giáo, bước vào thời đại căn cứ vào nội chứng của bản thân để thành lập giáo pháp, tự thực hành để xác lập Phật giáo nước mình.

Câu chuyện này thật hay giả tạm thời không bàn đến, nhưng nó thật sự là khúc nhạc tràn đầy ý nghĩa thời đại, và ý vị thâm sâu. Từ đó, Nguyên Hiểu hoặc hiện thân trong trần tục, hoặc trèo non lội suối sống cuộc đời vô cùng tự do phóng khoáng. Ông gởi thân trong chùa chiền, đàn hát tiêu khiển, hoặc ẩn hiện ở quán rượu, thanh lâu, thân tâm phóng khoáng, có lúc lại tọa thiền ở núi non, đào luyện tâm lí…

Tháng ngày của Nguyên Hiểu, có thể gọi là tùy ý mà làm, tùy tánh mà đi, chưa từng có băn khuăn lo lắng gì. Ông, với đại trí tuệ mang sắc thái truyền kì đã được các tầng lớp nhân sĩ Tân La rất tôn sùng.

Theo thống kê, trước tác của Nguyên Hiểu tổng cộng có 57 bộ, hơn 253 quyển. Những trước tác tiêu biểu như: “Vô Lượng Thọ Kinh Tông Yếu”, “Kim Cang Tam Muội Kinh Luận”, “Đại Thừa Khởi Tín Luận Sớ”, “Hoa Nghiêm Kinh Sớ” đặc biệt các sớ luận như “Khởi Tín Luận Sớ” …rất được giới Phật giáo Trung Quốc bản địa tôn trọng, gọi là “Hải Đông Sớ”, giao lưu với Phật giáo Trung Quốc, trở thành căn cứ cho tư tưởng thanh lương trừng quán.

Nguyên Hiểu đã tập hợp những thành tựu của Phật giáo ngày xưa, tiến hành xây dựng nền Phật học Tân La mới mẽ, cho nên, có người tôn xưng Nguyên Hiểu là Tổ của tám tông phái Phật giáo Triều Tiên, mà ngài cũng không hổ thẹn xứng đáng được như vậy.

TẮC THỨ 31: ĐẢN SANH CỦA ĐỨC PHẬT

Phật giáo khởi nguồn từ Ấn Độ cổ vào thế kỷ thứ V, VI trước công nguyên, vị sáng lập là Vương Tử Tất Đạt Đa Kiều Đạt Ma tức đức Phật Thích Ma Mâu Ni ở nước Ca Tỳ La Vệ thuộc nước Nepal ngày nay. Thời kỳ đó tương đương với thời Xuân Thu Chiến Quốc của Trung Quốc, đức Phật Thích Ca Mâu Ni và đức Khổng Tử của Trung Quốc gần như là những nhân vật cùng một thời đại. Thời kỳ Vương Tử Tất Đạt Đa sáng lập ra Phật giáo, là thời kỳ mà các nước Ấn Độ lúc bấy giờ liên tục tiến hành các cuộc chiến tranh, giữa bốn đẳng cấp Bà La Môn, Sa Đế Lợi, Phệ Xá, Thủ Đà La của toàn xã hội Ấn Độ cũng nảy sinh xung đột về kinh tế, chính trị, xã hội rối loạn nhiễu nhương, giữa lúc những mâu thuẫn về dân tộc và giai cấp vô cùng gay gắt ấy, đại vương tử Đất Đạt Đa dự cảm được vương triều khó khánh khỏi kết cục bị tiêu diệt, hiểu thấu sự vô thường biến hóa của thế gian, cảm thông sâu sắc rằng nhân loại đang sống trong khổ nạn, suốt đời bị phiền não vây khốn. Là một Vương tử cuộc sống của Ngài sung túc thoải mái, lại có được sự giáo dục văn hóa cao, đọc qua rất nhiều kinh điển Phệ Đà, nhưng tất cả những điều kiện ưu việt đó, cũng không thể giúp Ngài dẹp trừ được phiền não, đạt được sự giải thoát về tinh thần. Thế là năm 29 tuổi, bất chấp sự ngăn cản của vua cha, Ngài kiên quyết từ biệt vợ con, vứt bỏ vương vị, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca sa, xuất gia tu hành. Xuất gia rồi, Vương tử nỗ lực cầu mong tìm được phương pháp giải trừ phiền não. Đầu tiên, Ngài đến tu hành tại rừng Khổ Hạnh với tiên nhân Bạt Già, trải qua tất cả các phương pháp khổ hạnh dày vò thân thể, để cầu được giải thoát tinh thần. Nhưng, hoàn toàn không thể đạt được kết quả, Ngài không đồng ý với phương pháp tu tập này, chỉ ở lại một đêm rồi bỏ đi. Sau đó, Ngài qua phía Nam sông Hằng, đi đến thành Vương Xá thủ đô nước Ma Kiệt Đà, đi theo một vị thờ phụng phái Số Luận là A-la-la-ca-la-ma-hòa-úc-la-ca-la-ma-tử để tu tập thiền định, nhưng Ngài vẫn cho rằng không thể đạt đến sự giải thoát chân chánh. Thế là, Ngài lại đi đến rừng Khổ Hạnh ở núi Già- các tiếp tục tiến hành tu luyện khổ hạnh. Truyền thuyết nói rằng: “mỗi ngày Ngài chỉ ăn một hạt mè và một hạt gạo”, mài dũa thân thể, tu hành khổ hạnh bên bờ sông Ni-liên-thiền, trải qua sáu năm. Nhưng kết quả chỉ uổng công mà chẳng có kết quả gì. Cuối cùng, Ngài hiểu ra rằng khổ hạnh là vô ích, bởi vì chấp trước vào khổ hạnh, làm khổ thân thể mà mong được giải thoát, chỉ là chấp chặt vào thân thể. Việc lớn giải thoát không phải dùng thân thể chịu khổ mới có thể đạt được, mà phải qu